Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 120/2025/QÐST-HNGĐ

Quận 6, ngày 14 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Mỹ Quí

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2025/QÐST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2025, gồm có những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu:

1/ Ông Trần Thanh N - Sinh năm: 1980

Địa chỉ thường trú: 361/14/18 B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh

2/ Bà Trần Thị Thu T - Sinh năm: 1975

Địa chỉ thường trú: A L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

Chỗ ở hiện nay: 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi liên quan: Ông Diệp Tường S – Sinh năm: 1972

Địa chỉ thường trú: A L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG SỰ VIỆC:

* Trong đơn yêu cầu và tại bản tự khai ngày 07/3/2025, người yêu cầu là ông Trần Thanh N trình bày:

Ông là em ruột của bà Trần Thị Thu T. Bà T có chồng là ông Diệp Tường S. Trong quá trình chung sống, ông S và bà T có với nhau 02 (hai) người con chung là Diệp Quảng T1, sinh ngày: 09/5/2005 (đã trưởng thành) và Diệp Hòa T2, sinh ngày: 15/8/2009. Do ông không có vợ con nên năm 2019 ông có đề nghị được nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi và ông S, bà T cũng đồng ý. Vào ngày 30/9/2019 ông cùng với ông S và bà T đã thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B), Quận F Thành phố Hồ Chí Minh và đã được Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B) chứng nhận việc nhận nuôi con nuôi bằng Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển số 01/2019 ngày 30/9/2019. Tuy nhiên, trên giấy khai sinh của trẻ Diệp Hòa T2 vẫn để tên cha là Diệp Tường S và mẹ là Trần Thị Thu T.

Mặc dù ông nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi nhưng trẻ T2 vẫn sống chung với cha mẹ ruột là ông S, bà T tại địa chỉ 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh từ nhỏ cho đến nay. Sau khi nhận trẻ Hòa T2 làm con nuôi thì ông vẫn đến thăm nom và chu cấp đầy đủ cho cháu T2. Tháng 10/2024, ông S và bà T đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 6 và đã được Tòa án nhân dân Quận 6 công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 thì trẻ Diệp Hòa T2 sẽ do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Nay ông không có khả năng chăm sóc, chu cấp cho trẻ Diệp Hòa T2 nữa nên ông yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông và cháu Diệp Hòa T2. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 6 tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông với cháu Diệp Hòa T2.

* Trong đơn yêu cầu và tại bản tự khai ngày 07/3/2025, người yêu cầu là bà Trần Thị Thu T trình bày:

Bà và ông Diệp Tường S tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 134, quyển số 1/03 đăng ký ngày 20/10/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, ông S và bà có với nhau 02 (hai) con chung là Diệp Quảng T1, sinh ngày: 09/5/2005 (đã trưởng thành) và Diệp Hòa T2, sinh ngày: 15/8/2009.

Ông Trần Thanh N là em ruột của bà. Do ông N không có vợ con nên năm 2019 ông N có đề nghị được nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi và bà, ông S cũng đồng ý. Vì vậy, ngày 30/9/2019 ông N, ông S và bà đã thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B), Quận F Thành phố Hồ Chí Minh và đã được Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B) chứng nhận việc nhận nuôi con nuôi bằng Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển số 01/2019 ngày 30/9/2019

Mặc dù ông N nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi nhưng trẻ Hòa T2 vẫn sống chung với cha mẹ ruột là bà và ông S tại địa chỉ 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh từ nhỏ cho đến nay. Sau khi nhận trẻ Hòa T2 làm con nuôi thì ông N vẫn đến thăm nom và chu cấp đầy đủ cho cháu T2. Tháng 10/2024, ông S và bà đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 6 và đã được Tòa án nhân dân Quận 6 công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 thì trẻ Diệp Hòa T2 sẽ do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ông N không có khả năng chăm sóc, chu cấp cho trẻ Diệp Hòa T2 nữa nên ông N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thì bà cũng đồng ý.

Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 6 tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Thanh N và trẻ Diệp Hòa T2.

* Tại bản tự khai ngày 07/3/2025, người có quyền lợi liên quan là ông Diệp Tường S trình bày:

Ông và bà Trần Thị Thu T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 134, quyển số 1/03 đăng ký ngày 20/10/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, ông và bà T có với nhau 02 (hai) con chung là Diệp Quảng T1 – Sinh ngày: 09/5/2005 (đã trưởng thành) và Diệp Hòa T2 – Sinh ngày: 15/8/2009.

Ông Trần Thanh N là em ruột của bà T. Do ông N không có vợ con nên năm 2019 ông N có đề nghị được nhận trẻ Diệp Hòa T2 là con nuôi vì vậy ông và bà T đã đồng ý cho trẻ Diệp Hòa T2 là con nuôi của ông N. Ngày 30/9/2019, ông N, bà T và ông đã thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi tại tại Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B), Quận F Thành phố Hồ Chí Minh và đã được Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B) chứng nhận việc nhận nuôi con nuôi bằng Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển số 01/2019 ngày 30/9/2019. Mặc dù ông N nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi nhưng trẻ Hòa T2 vẫn sống chung với cha mẹ ruột là ông và bà T tại địa chỉ 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh từ nhỏ cho đến nay. Sau khi nhận trẻ Hòa T2 làm con nuôi thì ông N vẫn đến thăm nom và chu cấp đầy đủ cho cháu T2.

Tháng 10/2024, ông và bà T đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 6 và đã được Tòa án nhân dân Quận 6 công nhận thuận tình ly hôn theo Quyết định số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QĐÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 thì ông giao trẻ Diệp Hòa T2 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ông N không có khả năng chăm sóc, chu cấp cho trẻ Diệp Hòa T2 nữa nên ông N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thì ông cũng đồng ý.

Sau khi Tòa án giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Thanh N và trẻ Diệp Hòa T2 thì ông vẫn giao trẻ Diệp Hòa T2 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6.

* Tại bản tự khai ngày 07/3/2025, trẻ Diệp Hòa T2 trình bày:

Cháu là con ruột của bà Trần Thị Thu T và ông Diệp Tường S. Ông Trần Thanh N là em ruột của mẹ cháu. Từ nhỏ đến tháng 10/2024 thì cháu vẫn sống chung với cha mẹ tại địa chỉ 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 10/2024 thì cha mẹ cháu không còn sống chung với nhau nữa và từ đó đến nay thì cháu sống chung với mẹ T tại địa chỉ 6 Hồ N, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nay ông Trần Thanh N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu thì cháu cũng đồng ý

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Năm 2019, ông Trần Thanh N nhận nuôi cháu Diệp Hòa T2, sinh ngày: 15/8/2009 là con đẻ của bà Trần Thị Thu T và ông Diệp Tường S làm con nuôi. Các bên có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và Ủy ban nhân dân Phường F, Quận F cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển số 01/2019 vào sổ ngày 30/9/2019 nên quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp.

Nay ông N không có khả năng chăm sóc, chu cấp cho trẻ Diệp Hòa T2 nữa nên ông N, bà T, ông S đều thống nhất yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và trẻ Diệp Hòa T2 cũng đồng ý. Việc đề nghị chấm dứt việc nuôi con nuôi là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình và án lệ số 61/2023 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Thanh N đối với trẻ Diệp Hòa T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Thu T có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với trẻ Diệp Hòa T2, sinh ngày: 15/8/2009. Đây là việc hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm 1 khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Thanh N, bà Trần Thị Thu T, ông Diệp Tường S và cháu Diệp Hòa T2 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Năm 2019 ông Trần Thanh N nhận nuôi cháu Diệp Hòa T2 là con đẻ của bà Trần Thị Thu T và ông Diệp Tường S làm con nuôi và được Ủy ban nhân dân Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển số 01/2019 ngày 30/9/2019 nên quan hệ nuôi con nuôi giữa ông Trần Thanh N và cháu Diệp Hòa T2 là hợp pháp.

Mặc dù ông Trần Thanh N nhận trẻ Diệp Hòa T2 làm con nuôi nhưng theo sự xác nhận của các bên thì trẻ Diệp Hòa T2 vẫn sống chung với cha mẹ đẻ từ nhỏ cho đến lớn và trên giấy khai sinh vẫn đứng tên cha mẹ đẻ là ông Diệp Tường S và bà Trần Thị Thu T. Tuy không sống chung với trẻ Diệp Hòa T2 nhưng ông Trần Thanh N vẫn đến thăm nom và chu cấp đầy đủ cho trẻ T2.

Nay ông Trần Thanh N không còn khả năng chăm sóc và chu cấp cho cháu D Hòa Thành nên ông Trần Thanh N yêu cầu được chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Diệp Hòa T2. Bà Trần Thị Thu T là mẹ đẻ của cháu Diệp Hòa T2 cũng có yêu cầu đề nghị chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông N và cháu T2. Ông Diệp Tường S và cháu Diệp Hòa T2 cũng đồng ý chấm dứt việc nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của tất cả các bên và phù hợp với quy định tại Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 25 của Luật Nuôi con nuôi. Do đó, chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Thanh N với cháu Diệp Hòa T2.

Do ông Diệp Tường S và bà Trần Thị Thu T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 660/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2024 thì cháu Diệp Hòa T2 sẽ do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, vẫn tiếp tục giao trẻ T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Thu T mỗi người phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm 1 khoản 2 Điều 39; Điều 367, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Án lệ số 61/2023/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi khi con nuôi chưa thành niên được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24/02/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Thu T.

- Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Thanh N với cháu Diệp Hòa T2, sinh ngày: 15/8/2009 theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 256, quyển: 01/2019 ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Phường F (nay là Phường B), Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Quyền và nghĩa vụ của cha nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Trần Thanh N phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà ông N đã nộp theo biên lai thu số 0065053 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6.

Bà Trần Thị Thu T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0065054 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6.

Ông Trần Thanh N và bà Trần Thị Thu T đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định giải quyết việc dân sự. Đương sự vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - UBND Phường 2, Quận 6;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 120/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

  • Số quyết định: 120/2025/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger