|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 120/2023/HS-PT Ngày 18-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2023/HSPT ngày 05/10/2023 đối với bị cáo Trần Nguyễn Hồng Â, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HSST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
-
1. Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1998 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị H; Vợ, con: không;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
-
2. Nguyễn Tú D, sinh năm 2004 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: ấp S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Trúc P; Vợ, con: không;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
-
3. Trần Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 12/3/2006 tại Khánh Hòa; HKTT: thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng H1 (đã chết) và bà Trần Thị Xuân H2; Vợ, con: không;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 08/2023/HSST ngày 17-01-2023 của TAND huyện Long Điền xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị bắt từ ngày 21-10-2022 trong vụ án “Cố ý gây thương tích” (Có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Â: Bà Trần Thị Xuân H2, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Á: Bà Lê Thị T2 – Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (vắng mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước giữa Hồ Minh T3 và Nguyễn Hoàng Minh K nên vào ngày 22-3-2022, T3 và K hẹn gặp nhau tại khu dân cư L thuộc xã H, thành phố B để giải quyết mâu thuẫn.
Do sợ K gọi người đánh hội đồng, T3 đến nhà Nguyễn Hoàng T để nhờ T giúp. Tại đây, T3 gặp T, Nguyễn Thanh L, Lê Quốc K1, Phan Thanh B và Nguyễn Tú D nên T3 kể cho những người này nghe về mâu thuẫn của T3 và nhờ những người này giúp T3 giải quyết mâu thuẫn, tất cả đồng ý. Khi nhóm của T3 ra lấy xe đi thì Lê Chí B1 (nhà cạnh bên nhà T) thấy và hỏi chuyện. T kể cho B1 nghe sự việc và rủ B1 đi cùng. B1 đồng ý. B1 điện thoại rủ Phó Thành Hiệp, Phạm Thanh T4, Đoàn Thành C và Lê Hồng H3.
Để có thêm lực lượng, C rủ Trần Đinh Huy H4 và Trần Xuân K2. Lê Hồng H3 rủ thêm Phạm Thành H5. Khi đi, T điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, loại xe Satria, màu Đỏ Đen, biển số 72D1 – 492.03 chở T3; H6 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Nouvo, màu trắng (không nhớ BKS) chở B1 và T4; Thanh B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vario, màu xanh (không nhớ BKS mượn của người tên N không rõ nhân thân lai lịch) chở Tú D; Thanh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision màu đen (không nhớ BKS mượn của người bạn tên S, chưa rõ nhân thân lai lịch) chở Quốc K1; Phạm Thành H5 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe Winner, màu Trắng Đen, biển số 72D1 – 331.77 chở Lê Hồng H3. Cùng thời điểm này, Trần Thanh H7 điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, loại xe Satria chở Nguyễn Văn K3 đi chơi về đến quán cà phê M1 friend thuộc xã H, thành phố B thì gặp Phạm Thành H5 chở Lê Hồng H3 nên Thanh H7 chở K3 đi theo và tập trung tại khu dân cư L. Tại đây, nghe cả nhóm bàn đi đánh nhau Thanh H7 và Văn K3 thống nhất đi theo giúp T3 giải quyết mâu thuẫn với K.
Về phía K, khi K đến khu dân cư L thuộc xã H, thành phố B, thấy nhóm người của T3 đông nên K điện thoại rủ Trần Thiện N1 và Phạm Thanh T5 để phụ giúp K đánh nhau với nhóm của T3. Nghe K nói vậy, T5, N1 đồng ý. T5 nói K đi đến nhà T5 nói chuyện. Lúc này, T5 gọi điện thoại rủ Lê Thanh T6 và Phan Thanh N2, T6 và N2 đồng ý giúp K.
Để có thêm lực lượng, N1 rủ Hồ Quốc T7. Hồ Quốc T7 rủ Nguyễn Hồng V, Võ Anh K4, Trần Nguyễn Hồng  và Nguyễn Thành T8 được Â, K4, V, Thành T8 đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 72D1 - 498.36 chở Â; Thành T8 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển số 72D1-313.91 chở Quốc T7; K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream (không nhớ BKS, mượn của bạn) chở N1; K4 điều khiển xe mô tô một mình hiệu DAYANG, loại xe Nữ, màu Nâu, biển số 72K7 - 8332 chạy xuống thị trấn L. Khi đi đến khu vực miếu C1 thuộc khu phố L, thị trấn L, K, K4, Thành T8, V đi vào nhà của T5 gửi xe còn Quốc T7, Thành T8, Â, K4 ngồi ngoài đợi. Sau đó, T5 ôm ra một bó hung khí gồm: 04 cây dao rựa, 02 cây dao phóng lợn, 05 cây dao tự chế đem ra bãi đất trống để xuống để nhóm người của K cầm. Cùng lúc này, T6 và N2 đi đến. T5 đưa cho T6 và N2 mỗi người cầm một cây dao rựa,  cầm cục đá, Thành T8 cầm cục đá, Quốc T7 cầm dao tự chế, Thiện N1 cầm cục gạch, K cầm cục gạch, Hồng V cầm cục đá. Khi chuẩn bị đi đánh nhau, bà Nguyễn Thị T9 (mẹ của T5) biết sự việc nên ra yêu cầu T5 về nhà. Những người còn lại tiếp tục đứng đợi nhóm người mâu thuẫn của K đến.
Sau khi nhóm người của T3 và nhóm người của K tập trung lực lượng xong thì T3 điện thoại cho K. K yêu cầu T3 đến thị trấn L giải quyết mâu thuẫn và gửi định vị cho T3. Sau khi nhận được định vị, nhóm người của T3 bắt đầu đi đến thị trấn L. Đến ngã tư L, nhóm người của Trí quẹo phải đi thẳng đến ngã tư M rồi quẹo trái đi thẳng đến mắm Trí H8. Do đi sai vị trí nên nhóm người của T3 quay lại ngã tư mắm Trí Hải ngừng xe nhặt gạch, đá ven đường làm hung khí. Cùng lúc này, C điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe Vario, màu Đen, biển số 72D1 – 468.59 chở H4 và K2 đến, K2 cầm theo con dao tự chế và cùng nhập vào nhóm người của B1 và T đi đánh nhau. Nhóm người của T3 đi thẳng tìm nhóm của K nhưng không thấy, nên H6 chở B1 và T4 đi đến đường hàng me thuộc thị trấn L thì L chở D đuổi theo B1, kêu B1 quay lại để đánh nhau với nhóm của K. H6 quay xe mô tô lại chở B1, T4 đi cùng với L và D đến ngã tư mắm Trí Hải nơi nhóm người của T3 đang tập trung. Trên đường đi từ ngã tư L thuộc xã H đến ngã tư L cả nhóm của T3 điều khiển xe giăng hàng hai, hàng ba. Sau đó, cả nhóm quẹo trái ra Quốc lộ E đi thẳng đến khu vực miếu C1 thì bị nhóm người của K cầm theo hung khí đuổi đánh nên nhóm người của T3 bỏ chạy. Cùng lúc này, lực lượng Công an đi tuần tra phát hiện nên truy đuổi nhóm người của T3 và K bỏ chạy và vứt lại hung khí, phương tiện tại hiện trường. Qua làm việc Hoàng T, T, Q, T, T, Chí B1, Thanh T5, Hồng V, Xuân K2, Thành H5, Huy H4, Anh K4, Hồ N, Thanh H7, Văn K3, Thành C, Hồng H3, T, T, Thành N3, Thanh T6, Minh T3, Minh K, Thành T8, Thiện N1 và Quốc T7 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Đối với Hồ Minh T3, Nguyễn Hoàng Minh K, Nguyễn Thành T8, Trần Thiện N1 và Hồ Quốc T7 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi. Cơ quan CSĐT Công an huyện L chuyển hồ sơ cho UBND xã L đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thanh L, Lê Quốc K1, Phan Thanh B, Nguyễn Tú D, Lê Chí B1, Phạm Thanh T5, Nguyễn Hồng V, Trần Xuân K2, Phạm Thành H5, Trần Đinh Huy H4, Võ Anh K4, Trần Nguyễn Hồng Â, Trần Thanh H7, Nguyễn Văn K3, Đoàn Thành C, Lê Hồng H3, Phạm Thanh T4, Phó Thành Hiệp, Phan Thanh N2 và Lê Thanh T6 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Tú D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng T 29 (Hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Nguyễn Hồng Ân 14 (mười bốn) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự buộc bị cáo  phải chấp hành 15 tháng tù của Bản án số 08/2023/HSST ngày 17-01-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, bị cáo Trần Nguyễn Hồng  phải chấp hành hình phạt chung 29 (hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-10-2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/6/2023, bị cáo Trần Nguyễn Hồng  có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 07/7/2023 bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phát biểu quan điểm đồng thời phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Qua đó Đại diện Viện kiểm sát nhận xét bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- - Luật sư Lê Thị T2 gửi bào chữa cho bị cáo  trình bày: Bị cáo  phạm tội khi mới hơn 16 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình; bị cáo tham gia vụ án do bị rủ rê, không chuẩn bị hung khí nên vai trò hạn chế hơn các bị cáo khác; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra sự việc đánh nhau do bị công an phát hiện ngăn chặn nên chưa gây thiệt hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo Â.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi trong thời hạn quy định, phù hợp về chủ thể và nội dung kháng cáo nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Sau khi T3 và K hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 19 giờ ngày 22-3-2022, tại khu vực tái định cư C2 thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện L thì nhóm của Nguyễn Hoàng Minh K, Trần Thiện N1, Phạm Thanh T5, Nguyễn Hồng V, Hồ Quốc T7, Võ Anh K4, Trần Nguyễn Hồng Â, Nguyễn Thành T8, Lê Thanh T6 và Phan Thanh N2 đã có hành vi thống nhất cùng nhau tìm nhóm người của Hồ Minh T3 để đánh nhau. Sau khi thống nhất, Phạm Thanh T5 đã chuẩn bị hung khí gồm 4 cây dao rựa, 02 cây dao phóng lợn, 05 cây dao tự chế (mã tấu) để đưa cho nhóm người của K cầm, tất cả tập trung tại điểm hẹn chờ nhóm của T3 đến.
Đối với Hồ Minh T3, sau khi hẹn thách thức đánh nhau cùng với K, T3 đến nhà Nguyễn Hoàng T gặp Nguyễn Thanh L, Lê Quốc K1, Phan Thanh B và Nguyễn Tú D cùng Lê Chí B1, Trần Xuân K2, Phạm Thành H5, Trần Đinh Huy H4, Trần Thanh H7, Nguyễn Văn K3, Đoàn Thành C, Lê Hồng H3, Phạm Thanh T4 và Phó Thành Hiệp có hành vi thống nhất chở nhau trên các xe mô tô chạy từ khu L thuộc xã H đến thị trấn L để giúp T3 đánh nhau. Khi đi đến ngã tư L, thị trấn L cả nhóm dừng lại nhặt gạch, đá ven làm hung khí đi đến điểm hẹn với nhóm K. Khi đi đến Quốc lộ E thuộc khu phố L, thị trấn L thì gặp và bị nhóm của K từ trong khu vực tái định cư Cây Q cầm hung khí chạy theo đuổi đánh, nhóm của T3 sợ nên bỏ chạy. Hai nhóm chuẩn bị, mang theo hung khí, chở nhau trên xe mô tô rượt đuổi đánh nhau trên đường gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D, Trần Nguyễn Hồng  phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục các bị cáo răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương.
Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D là người thực hành tích cực, đồng ý và trực tiếp chở nhau trên xe máy, dùng hung khí tham gia đi đánh nhau, rủ thêm đồng bọn tham gia nên cần xử lý nghiêm khắc. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo T 29 tháng tù, bị cáo D 26 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, không cung cấp được tình tiết nào mới theo quy định của pháp luật làm căn cứ xem xét kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, D và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đối với Trần Nguyễn Hồng  tham gia đồng phạm với nhóm của T3 với vai trò tích cực, trực tiếp dùng đá tham gia đánh nhau nên cũng cần xử lý nghiêm, đồng thời bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định.
Đại diện hợp pháp của bị cáo bà Trần Thị Xuân H2 có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng mất sớm, bản thân bị bệnh tim, bệnh thận thường xuyên đau ốm, phải nuôi cháu nhỏ bị dị tật bẩm sinh, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, mức án 14 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo  là tương xứng với tính chất nguy hiểm, có phần nhẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo  và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D, Trần Nguyễn Hồng Â; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 107/2023/HSST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D, Trần Nguyễn Hồng  phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng T 29 (Hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Tú D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Nguyễn Hồng  14 (mười bốn) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 08/2023/HSST ngày 17-01-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền; buộc bị cáo Trần Nguyễn Hồng  phải chấp hành hình phạt chung là 29 (Hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21-10-2022.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 107/2023/HSST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Tú D, Trần Nguyễn Hồng  mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Quyết định số 120/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số quyết định: 120/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T Gây rối trật tự công cộng
