trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HS-ST

Ngày: 26-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ.
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức P

(tên gọi khác: Không), sinh năm 1990 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ H, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1963 (đã chết); gia đình có 03 anh em (bị cáo là con thứ hai) và chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 23/01/2019, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 03/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/3/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/12/2024, bị Công an phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC (chưa đóng phạt).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 27/02/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

- Bị hại:

  1. Chị Châu Ngọc Kim C, sinh năm 1994. (SĐT: 0837.547.xxx) Địa chỉ: B đường N, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  2. Ông Bùi Văn N, sinh năm 1960. (SĐT: 0352.591.xxx) Địa chỉ: Số E, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  3. Bà Hồ Kim C1, sinh năm 1968. (SĐT: 0368.182.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố G, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  4. Chị Hoàng Thị Thu M, sinh năm 1985. (SĐT: 0979.661.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố G, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  5. Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1970. (SĐT: 0343.572.xxx) Địa chỉ: B đường T, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  6. Bà Vy Thị N2, sinh năm 1967. (SĐT: 0367.239.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  7. Anh Phạm Thanh T2, sinh năm 1986. (SĐT: 0963.800.xxx) Địa chỉ: Tổ C, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  8. Bà Lý Thị H, sinh năm 1974. (SĐT: 0798.495.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  9. Anh Đinh Kiên P1, sinh năm 1994. (SĐT: 0397.699.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  10. Bà Thị L, sinh năm 1960. (SĐT: 0356.689.xxx hoặc 0392.757.708) Địa chỉ: A đường H, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  11. Anh Vy Ngọc H1, sinh năm 1982. (SĐT: 0397.699.xxx) Địa chỉ: A đường H, khu phố H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  12. Ông Nguyễn Phú V, sinh năm 1977. (SĐT: 0978.501.xxx) Địa chỉ: 4, tổ A, khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  13. Anh Trương Phú K, sinh năm 1983. (SĐT: 0942.166.xxx) Địa chỉ: D, tổ A, khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  14. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1960. (SĐT: 0918.534.xxx) Địa chỉ: F đường B, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thùy Trâm A, sinh năm 1986. (SĐT: 0902.952.xxx) Địa chỉ: Số B đường B, khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  2. Bà Phan Thị Mỹ H2, sinh năm 1978 (SĐT: 0357.125.xxx) Địa chỉ: D L, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức P, là đối tượng có nhân thân xấu, vừa chấp hành án xong về địa phương, không có việc làm ổn định, lại sử dụng ma túy, để có tiền sử dụng ma túy, P thường xuyên lang thang các nơi công cộng tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài.

Từ chiều ngày 13/12/2024 đến rạng sáng ngày 14/12/2024, lợi dụng thời điểm vắng vẻ, trời tối, không người trông coi, P điều khiển xe môtô mang biển số 60B5-526.10 trên các đường tuyến đường nội ô thành phố L, dùng mỏ lết chuẩn bị từ trước tháo gỡ 14 cái đồng hồ đo nước của người dân để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Chiều ngày 13/12/2024, P điều khiển xe môtô biển số 60B5-526.10 trên đường N thuộc phường X, thành phố L thì thấy nhà của bà Châu Ngọc Kim C, sinh năm 1994, nơi cư trú: B N, phường X, thành phố L đang trong tình trạng khoá cửa, không có ai trông coi, xung quanh vắng vẻ và phía trước có đồng hồ đo nước không được che đậy nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. P đã khoá đường ống dẫn nước, dùng mỏ lết tháo đồng hồ đo nước rồi cất vào bên trong balo của mình. Tiếp đến, P điều khiển xe máy đi trên đường B rồi rẽ vào đường nhựa nằm dưới Cầu vượt đường sắt phường X, thành phố L thì tiếp tục thấy nhà của ông Bùi Văn N, sinh năm 1960, nơi cư trú: khu phố B, phường X, thành phố L cũng đang trong tình trạng khoá cửa, không có ai trông coi, xung quanh vắng vẻ và phía trước có đồng hồ đo nước không được che đậy nên tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt. P liền khoá đường ống dẫn nước, dùng mỏ lết tháo đồng hồ đo nước rồi cất vào bên trong balo của mình. Sau khi chiếm đoạt được 02 (hai) đồng hồ đo nước nêu trên, P mang đến bán cho cơ sở thu mua phế liệu tại D L, khu phố A, phường X, thành phố L của bà Phan Thị Mỹ H2, sinh năm 1978, nơi cư trú: D L, khu phố A, phường X, thành phố L được 100.000 đồng, P đã dùng để mua ma tuý sử dụng hết.

Rạng sáng ngày 14/12/2024, P tiếp tục điều khiển xe môtô biển số 60B5-526.10 đi trên đường H thuộc phường X, thành phố L để tìm kiếm đồng hồ đo nước thì thấy có nhiều đồng hồ đo nước không được che đậy cẩn thận và xung quanh vắng vẻ, không có ai trông coi. Vì vậy, P đã khoá đường ống dẫn nước rồi dùng mỏ lết tháo 09 (chín) đồng hồ đo nước của bà Hồ Kim C1 (sinh năm 1968), bà Hoàng Thị Thu M (sinh năm 1985), bà Hoàng Thị N1 (sinh năm 1970) cùng cư trú tại đường H, khu phố G, phường X, thành phố L và bà Vy Thị N2 (sinh năm 1967), ông Phạm Thanh T2 (sinh năm 1986), bà Lý Thị H (sinh năm 1974), ông Đinh Kiên P2 (sinh năm 1994), bà Thị L (sinh năm 1960), ông Vy Ngọc H1 (sinh năm 1982) cùng cư trú tại đường H, khu phố H, phường X, thành phố L. Tiếp đến, P đi trên đường B thuộc phường X và X, thành phố L rồi lợi dụng việc xung quanh vắng vẻ, không có ai trông coi và không được che đậy cẩn thận để dùng mỏ lết tháo 03 đồng hồ đo nước của ông Nguyễn Phú V (sinh năm 1977) ông Trương Phú K (sinh năm 1983) cùng cư trú tại khu phố E, phường X, thành phố L và ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1960, nơi cư trú: khu phố B, phường X, thành phố L. Toàn bộ 12 đồng hồ đo nước nêu trên, P đều cất vào trong balo của mình rồi mang 03 đồng hồ đo nước đến bán cho cơ sở thu mua phế liệu của bà H2 được 150.000 đồng và mang 09 đồng hồ đo nước còn lại đến bán cho cơ sở thu mua phế liệu tại khu phố S, phường S, thành phố L của bà Nguyễn Thùy Trâm A, sinh năm 1986, nơi cư trú: khu phố S, phường S, thành phố L được 250.000 đồng. Số tiền 400.000 đồng có được P đều dùng để mua ma tuý sử dụng hết.

Do không ai thu mua đồng hồ nước nên sau khi lấy được P đã phá bỏ vỏ đồng hồ nước để lấy dây đồng bên trong mang bán cho các cơ sở thu mua phế liệu. Sau khi đưa về làm việc, P đã dẫn Công an phường X đi thu hồi 14 vỏ đồng hồ đo nước (mặt đồng hồ cùng vỏ kim loại) mà mình đã chiếm đoạt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/HĐĐGTSTTHS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 14 (mười bốn) đồng hồ đo nước đã qua sử dụng, bị tháo rời phần mặt đồng hồ và phần vỏ kim loại vào thời điểm chiều ngày 13, rạng sáng ngày 14/12/2024 có tổng trị giá là 700.000 đồng (50.000 đồng/cái).

Nguyễn Đức P có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” nên lần phạm tội này là tái phạm. Quá trình điều tra, bị cáo P đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 01 (một) mỏ lết phi 30 dài 35cm hiệu YETI USA là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • 14 (mười bốn) đồng hồ đo nước đã qua sử dụng, bị tháo rời phần vỏ bằng kim loại và phần mặt đồng hồ mà Nguyễn Đức P đã chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của các bị hại. Tuy nhiên qua làm việc, các bị hại đều từ chối nhận lại những đồng hồ đo nước này do đã bị hư hỏng, không có khả năng khôi phục, sửa chữa và bản thân họ đã được cấp đồng hồ đo nước mới. Đây là những tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

01 (một) xe môtô mang biển số 60B5-526.10 do anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện X (anh ruột của Nguyễn Đức P) đứng tên trên giấy đăng ký xe. Anh T4 không biết khi P tự ý lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần trả lại xe môtô trên cho anh T4.

Các tang vật trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh để phục vụ công tác xét xử.

* Về dân sự: Ông Nguyễn Phú V, ông Trương Phú K và ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức P phải bồi thường thiệt hại cho mình với số tiền 1.000.000 đồng/người. Quá trình Điều tra, P đồng ý nhưng chưa bồi thường cho ông V, ông K và ông T3.

Riêng những bị hại khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu bị cáo P phải bồi thường.

Tại cáo trạng số 103/CT-VKSLK ngày 12 tháng 5 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; đồng thời nêu nên các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để HĐXX xem xét, áp dụng khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đức P với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị tuyên buộc bị cáo Nguyễn Đức P bồi thường cho ông Nguyễn Phú V, ông Trương Phú K và ông Nguyễn Văn T3 mỗi người 1.000.000 (một triệu) đồng.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mỏ lết phi 30 dài 35cm hiệu YETI USA là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; 14 (mười bốn) đồng hồ đo nước đã qua sử dụng, bị tháo rời phần vỏ bằng kim loại và phần mặt đồng hồ mà bị cáo đã chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của các bị hại do không còn giá trị sử dụng.

Trả lại 01 (một) xe môtô mang biển số 60B5-526.10 cho anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai (anh ruột của Nguyễn Đức P) do bị cáo tự ý lấy xe đi, anh T4 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Xét thấy, Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ, quá trình Điều tra, truy tố những người này đã có đầy đủ lời khai trình bày. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm và Điều luật truy tố:

[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức P khai nhận: Vào các ngày 13 và 14/12/2024, trên các tuyến đường N, phường X; đường H, phường X và hẻm Đ, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Đức P lợi dụng việc công trình công cộng đang làm đường, các đồng hồ nước chưa được lắp đặt hộp bảo vệ và sự sở hở của các hộ dân trong việc trong coi, bảo về tài sản đã lén lút tháo gỡ 14 đồng hồ nước, phá bỏ vỏ để lấy đồng đem bán lấy tiền tiêu xài, sử dụng ma tuý. 14 đồng hồ nước mà bị cáo đã lén lút trộm cắp của các bị hại có tổng giá trị là 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.

[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù tài sản mà bị cáo lén lút trộm cắp của các bị hại có tổng giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng qua làm việc các hộ dân (người bị hại) bị mất đồng hồ nước đều rất bức xúc do không có nước để sinh hoạt, mất thời gian và chi phí để liên hệ lắp đặt đồng hồ đo nước mới. Các hộ dân lân cận cũng cảm thấy bất bình và lo lắng vì sợ sẽ tiếp tục bị mất đồng hồ đo nước nếu không có biện pháp bảo đảm an toàn một cách hiệu quả đồng thời Uỷ ban nhân dân các phường X, X, X thuộc thành phố L cùng xác định, đánh giá hành vi của Nguyễn Đức P đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ việc.

Do đó, đã có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Đức P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố L đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Toà án xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Lẽ ra bị cáo phải rút kinh nghiệm, phấn đấu tu dưỡng khắc phục lỗi lầm của bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo đã không làm được điều đó. Điều này thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Vào ngày 23/01/2019, bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (theo bản ản số 03/2019/HS-ST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/3/2023) chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi Quyết định mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm ông Nguyễn Phú V, ông Trương Phú K và ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng/người.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức P đồng ý bồi thường theo yêu cầu trên của các bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu buộc bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự của các bị hại và ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo. Cụ thể: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại gồm ông Nguyễn Phú V, ông Trương Phú K và ông Nguyễn Văn T3 mỗi người 1.000.000 (một triệu) đồng/người.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mỏ lết phi 30 dài 35cm hiệu YETI USA là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; 14 (mười bốn) đồng hồ đo nước đã qua sử dụng, bị tháo rời phần vỏ bằng kim loại và phần mặt đồng hồ mà bị cáo đã chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của các bị hại do không còn giá trị sử dụng.
  • Trả lại 01 (một) xe môtô mang biển số 60B5-526.10 cho anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai (anh ruột của Nguyễn Đức P) do bị cáo tự ý lấy xe đi, anh T4 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí HSST và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí DSST theo quy định.

[9] Về vấn đề khác: Bà Nguyễn Thùy Trâm A và bà Phan Thị Mỹ H2 khi mua các đồng hồ đo nước (bị cáo mang đến bán và nói dối mình là thợ sửa nước, những đồng hồ đo nước này đều đã bị hư hỏng) không biết do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có. Vì vậy, không có cơ sở xử lý hình sự đối với bà A và bà H2.

[10] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh: Xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh; điều luật truy tố; áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức P bồi thường cho các bị hại gồm ông Nguyễn Phú V, ông Trương Phú K và ông Nguyễn Văn T3 mỗi người 1.000.000 (một triệu) đồng/người.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mỏ lết phi 30 dài 35cm hiệu YETI USA là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; 14 (mười bốn) đồng hồ đo nước đã qua sử dụng, bị tháo rời phần vỏ bằng kim loại và phần mặt đồng hồ mà bị cáo đã chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của các bị hại do không còn giá trị sử dụng.
  • Trả lại 01 (một) xe môtô mang biển số 60B5-526.10 cho anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai (anh ruột của Nguyễn Đức P) do bị cáo tự ý lấy xe đi, anh T4 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí HSST và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí DSST theo quy định.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Long Khánh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Những người có QLNV liên quan;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thế Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 120/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số quyết định: 120/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger