Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số:12/QÐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 13 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu xác nhận cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Thế Hưng

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên – Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác nhận cha cho con". Theo quyết định mở phiên họp số 55/2025/QĐMPH – HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/6/1995.
  2. Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

  3. Anh C, H1 - C, sinh ngày 03/11/1997.
  4. Quốc tịch: Đài Loan.

    Hộ chiếu: 365800950 do Cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc (Đài Loan) cấp ngày 02/5/2024.

    Địa chỉ: Số nhà H, đường T, cụm C, phường S, quận Đ, thành phố C, Đài Loan (Trung Quốc).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Công H2, sinh năm 1996.

Địa chỉ : Thôn A, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

(Chị H, anh C, H1 -C, anh H2 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn yêu cầu xác định cha cho con, bản tự khai của chị Nguyễn Thị H và anh C, H1 -Cang thể hiện:

Chị Nguyễn Thị H có thời gian lao động tại Đài Loan, năm 2023 chị H và anh C, H1 - Cang có quen biết, phát sinh tình cảm dẫn đến chị H mang thai. Thời điểm này chị H và anh Nguyễn Công H2 còn là vợ chồng hợp pháp. Đến ngày 28/6/2024 chị H và anh H2 đã được Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 34/2024/QĐCNTTLH. Ngày 02/12/2024 chị H đã sinh con tại bệnh viện P, và dự định đặt tên con là C, Y- С. Hiện tại chị H chưa làm thủ tục khai sinh cho cháu C, Y- Cun tại cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định pháp luật thì cháu C, Y - Cun được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi chị H và anh H2 ly hôn, nên cháu C, Y- C1 là con của anh H2. Ngày 19/12/2024 chị H và anh C, H1- C3 đã làm thủ tục giám định ADN tại Viện công nghệ A và phân tích di truyền - GenLAB. Tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 21/12/2024 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền - Genlab kết luận anh C, H1 - C2 và cháu C, Y - Cun có quan hệ huyết thống bố - con. Do vậy, anh chị đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN để xác định cháu C, Y-Cun là con đẻ của anh C, H1- C2 không phải là con của anh Nguyễn Công H2.

- Theo đơn trình bày, bản tự khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Công H2 có quan điểm: Anh và chị H trước đây đều lao động tại Đài Loan, do hai bên mâu thuẫn nên cả hai sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Tháng 8/2023 anh về Việt Nam, tháng 6/2024 chị H về Việt Nam làm đơn ly hôn và được Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn giải quyết theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 34/2024/QĐCNTTLH ngày 28/6/2024. Giữa anh và chị H không có con chung, anh xác định cháu C, Y- Cun, sinh ngày 02/12/2024 không phải là con của anh và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ vào kết quả xét nghiệm xét nghiệm AND số 242686GL/ADN ngày 21/12/2024 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền - GENLAB có đủ cơ sở kết luận cháu C, Y - Cun là con của chị Nguyễn Thị H và anh C, H1- C. Cháu C, Y - C1 không có quan hệ huyết thống với anh Nguyễn Công H2. Do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị H và anh C, H1- Cang xác định cháu C, Y - Cun là con đẻ của anh C, H1- C. Anh Nguyễn Công H2 không phải là cha của cháu C, Y- Cun.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1].Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có địa chỉ tại Thôn Q, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Anh C, H1- C2 là người có quốc tịch Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh C, H1- C3 nhập cảnh vào Việt Nam và có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương để trình bày ý kiến, quan điểm thông qua người phiên dịch, dịch lại. Do vậy, có căn cứ xác định bản tự khai thể hiện đúng ý trí của anh C, H1- С.

Cháu C, Y- C1 sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân giữa anh Nguyễn Công H2 và chị Nguyễn Thị H, nên được coi là con của anh H2 và chị H. Do vậy, Tòa án xác định anh H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Anh C, H1- C, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công H2 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, trước khi kết hôn với anh C, H1 - Cang chị H đã kết hôn với anh Nguyễn Công H2, sau đó chị H và anh H2 đã được Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn giải quyết ly hôn bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 34/2024/QĐCNTTLH ngày 28/6/2024. Ngày 02/12/2024 chị H sinh con và dự định đặt tên là C, Y - C. Ngày 14/01/2025 chị H và anh C, H1- Cang đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã K. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN số 242686GL/ADN ngày 21/12/2024 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền - GENLAB kết luận cháu C, Y - C1 là con của chị Nguyễn Thị H và anh C, H1- C. Bên cạnh đó anh Nguyễn Công H2 cũng có đơn xác nhận anh không phải là cha của cháu C, Y-Cun. Do đó, căn cứ kết luận giám định ADN và lời khai của các bên đương sự có cơ sở xác định, cháu C, Y- Cun là con đẻ của anh C, H1- C và chị Nguyễn Thị H. Cháu C, Y- C1 không phải là con của anh Nguyễn Công H2.

[3]. Về Lệ phí: Chị Nguyễn Thị H và anh C, H1 - C3 không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 361, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 88, Điều 89 Luật Hôn nhân gia đình.

  1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H và anh C, H1- C.
  2. Xác định cháu C, Y- C4, sinh ngày 02/12/2024 là con của anh C, H1- С. Cháu C, Y- C1 không phải là con của anh Nguyễn Công H2.

  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh C, H1- C và anh Nguyễn Công H2 được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Về lệ phí: Hoàn trả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng chẵn) cho chị Nguyễn Thị H và anh C, H1- Cang đã nộp theo biên lai số 0005480 ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát tỉnh.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Bùi Thế Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 12/QÐST- HNGĐ ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu xác nhận cha cho con

  • Số quyết định: 12/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác nhận cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H và anh C, H - C đề nghị Tòa án xác nhận cha cho con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger