Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

Số: 12/2025/QÐST-VDS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tiên Du, ngày 30 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v Hủy kết hôn trái pháp luật”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Cường Dũng.

Thư ký phiên họp: Ông Trịnh Quang Huy - Thư ký TAND huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 206/2025/TLST-VHNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp số: 206/2025/QĐ-VHNGĐ ngày 16/6/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (Có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1974 (Có mặt);
  2. Cùng HKTT: Thôn V, xã P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh;

  3. UBND xã P, huyện Tiên Du.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị H, chức vụ: Chủ tịch UBND xã;

Địa chỉ: xã P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

*Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị T có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày tại phiên họp:

Vào 03/01/1998, bà kết hôn với chồng là ông Lê Văn S, 1974 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống tại thôn V, xã P. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc.

Vợ chồng bà sinh được 03 con chung là cháu Lê Văn T, sinh ngày 09/10/1998 và cháu Lê Thị Th, sinh ngày 17/12/2001 và cháu Lê Xuân Tr, sinh ngày 12/5/2008. Bà không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Bà không yêu cầu giải quyết.

Tại thời điểm đăng ký kết hôn với ông S, do không am hiểu pháp luật nên khi đó bà đều chưa đủ tuổi nhưng đã kết hôn và đi đăng ký kết hôn. Trong giấy chứng nhận kết hôn có ghi bà sinh năm 1980, thực tế bà sinh ngày 16/01/1981 (theo giấy khai sinh và Căn cước hiện nay); ghi trong giấy kết hôn như vậy là không đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà đều sơ xuất, không kiểm tra lại giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng bà.

Hiện tại, vợ chồng bà hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì nghiêm trọng. Nay do bà gặp vướng mắc về thủ tục hành chính. Do vậy, bà làm đơn đề nghị Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận bà và ông S là vợ chồng kể từ thời điểm bà đủ tuổi kết hôn.

Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

*Theo lời trình bày của ông Lê Văn S có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày tại phiên họp:

Ông đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ việc dân sự và các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Ông đã được biết ý kiến yêu cầu của bà T làm việc tại Toà án và tại phiên họp, ông nhất trí với ý kiến của bà T. Đề nghị Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật và tiếp tục công nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng ông kể từ thời điểm bà T đủ tuổi kết hôn.

Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì khác.

*Theo lời trình bày có trong hồ sơ vụ án của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đại diện UBND xã P bà Ngô Thị H trình bày:

Bà là người đại diện theo pháp luật của UBND xã P, trực tiếp tham gia tố tụng không uỷ quyền cho ai.

Sau khi rà soát sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn lưu tại UBND xã P, huyện Tiên Du năm 1986-1987 bắt đầu từ năm 1986 kết thúc năm 1999 có ghi ngày 03/01/1998, ghi nhận ông Lê Văn S, sinh năm 1974 kết hôn với bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980, quê quán: Thôn V, xã P, huyện Tiên Du. Đến nay bà được Toà án thông báo cho biết bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 16/01/1981 (theo giấy khai sinh, Căn cước công dân...) như vậy tại thời điểm kết hôn bà T chưa đủ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Nay bà T có đơn đề nghị Toà án giải quyết huỷ kết hôn trái pháp luật đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Do công việc bận nên đại diện UBND xã xin vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên họp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán giải quyết việc dân sự, Thư ký tại phiên họp đã tuân theo đúng các quy định của chương XXIII Bộ luật tố tụng dân sự về Thủ tục giải quyết việc dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 68, 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về phần nội dung: Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 1986; Khoản 6, Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 2, Điều 3, Điều 4 của Thông tư liên tịch số 01/2016 ngày 06/01/2016; Các Điều 29, 35, 39, 149BLTTDS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 đề nghị Toà án tuyên: Hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S tại thời điểm bà T đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.

Đương sự phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp ý kiến của các đương sự và Đại diện VKS nhân dân huyện Tiên Du tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du nhận định:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu đề nghị Toà án “Huỷ kết hôn trái pháp luật”; bà T và ông S có cùng địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; bà xuất trình việc kết hôn tại UBND xã P, huyện Tiên Du do đó căn cứ vào khoản 1, Điều 29; điểm b, khoản 2, Điều 35 và điểm g, khoản 2, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục mở phiên họp vắng mặt: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng để các đương sự tham gia phiên họp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã P, huyện Tiên Du đã trình bày ý kiến, có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ việc:

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S trình bày và xuất trình Trích lục kết hôn ngày 03/01/1998, đăng ký tại UBND xã P. Trong giấy Trích lục kết hôn có ghi bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980 tuy nhiên theo căn cước công dân, giấy khai sinh, bà T, sinh ngày 16/01/1981. UBND xã P cung cấp cho Tòa án bản sao Trích sổ đăng ký kết hôn năm 1998 và các đương sự cung cấp Trích lục kết hôn, thể hiện việc bà T và ông S có đăng ký kết hôn tại UBND xã P.

Theo như lời trình bày của bà T, ông S thể hiện tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà T chưa đủ tuổi. Khi kết hôn, bà T, ông S do không am hiểu pháp luật nên khi đó bà chưa đủ tuổi nhưng đã kết hôn và đi đăng ký kết hôn. Như vậy, khi đăng ký kết hôn tại UBND xã P, bà T được 16 năm 11 tháng 18 ngày tuổi.

Việc bà T, ông S đăng ký kết hôn ngày 03/01/1998, đăng ký tại UBND xã P là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 5 Luật Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tại điểm a, khoản 1, Điều 8 quy định: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Như vậy có đủ căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 03/01/1998, bà T chưa đủ tuổi kết hôn, việc ông bà đăng ký kết hôn đã vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của bà T và ông S đã có đủ điều kiện kết hôn. Vợ chồng chung sống hòa T, hạnh phúc và có với nhau 03 con chung, tài sản chung nhưng vì năm sinh bà T không trùng khớp nhau đã ảnh hưởng đến cuộc sống của ông bà và các con; bà có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiên Du hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung và tài sản chung: Bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Tại phiên họp cả bà T và ông S đều đề nghị tiếp tục công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông bà từ thời điểm bà T đủ tuổi kết hôn. Xét thấy ông bà hiện đang sống chung hòa T hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì nên công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S từ ngày 17/01/1998 khi bà T đủ tuổi đăng ký kết hôn.

Tại phiên họp: Đại diện VKS phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là đúng, phù hợp.

[3] Về Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà T phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1, Điều 29; điểm b, khoản 2, Điều 35; điểm g, khoản 2, Điều 39; Điều 149; Điều 362, Điều 365, Điều 366, Điều 367, Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986;

- Căn cứ khoản 6, Điều 3, Điều 8; Điều 10, Khoản 2, Điều 11, Điều 12, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016;/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.

Hủy hôn nhân trái pháp luật giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 03/01/1998, Sổ đăng ký kết hôn năm 1998 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S kể từ ngày 17/01/1998.

Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn S có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc ghi chú vào Sổ hộ tịch theo Luật hộ tịch.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình. Xác nhận bà Nguyễn Thị T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng lệ phí tại biên lai ký hiệu: BLTU/24; số 0002865 ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND H.Tiên Du;
  • - Chi cục THADS H. Tiên Du;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(ĐÃ KÝ)

Đỗ Cường Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 12/2025/QÐST-VDS ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về hủy kết hôn trái pháp luật

  • Số quyết định: 12/2025/QÐST-VDS
  • Quan hệ pháp luật: Hủy kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T huỷ kết hôn trái pháp luật với ông Lê Văn S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger