|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 24 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hoá
Ông Nguyễn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị Ngọc H; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1986; Địa chỉ thường trú: TDP Đ, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Phạm Hữu T (đã chết); Mẹ: Hoàng Thị B (đã chết); Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ chín; Chồng: Không có, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/11/2004, bị Toà án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2007 và đã nộp án phí.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D từ ngày 09/4/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hùng V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990; Địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Nguyễn Hùng M, sinh năm 1967; Mẹ: Không rõ; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D từ ngày 21/8/2024; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Á, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt
- Người làm chứng:
- + Ông Đỗ Sỹ Q, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Ông Mai Hữu Q1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Bà Đỗ Thị Anh T1, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; Địa chỉ: TDP số A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
- + Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 9 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, tổ công tác Công an huyện D đang tuần tra tại khu vực chợ V1 trên đường T, thuộc thôn T, xã D, huyện D phát hiện Phạm Thị Ngọc H đang bán cho Đỗ Sỹ Q một túi nylong màu trắng trong suốt, kích thước (5x4)cm, được hàn kín, bên trong đựng thảo mộc khô màu vàng (được niêm phong, ký hiệu A). Tại đây, cả hai đối tượng thừa nhận H đang bán ma túy cho Q loại “cỏ mỹ”, với giá 50.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện D tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phạm Thị Ngọc H tại thôn L, xã D, huyện D:
Tại phòng khách có đặt 01 tủ cấp đông, bên trong tủ cấp đông, phát hiện và thu giữ 02 ống nhựa đồng có nắp đậy. Trong đó:
- - Ống thứ nhất đựng: 43 túi nylong nhiều kích thước màu trắng có khóa kéo, viền túi màu đỏ, được hàn kín, bên trong đựng thảo một khô màu vàng (được niêm phong, ký hiệu B).
- - Ống thứ hai đựng: 01 túi nylong màu vàng, trên túi có in chữ “Trà, L1”, kích thước (16x10)cm, được hàn kín, bên trong đựng thảo mộc khô màu vàng (được niêm phong, ký hiệu C).
Tại phòng bếp, phát hiện và thu giữ: 01 máy hàn điện màu trắng đỏ; 01 túi nylong màu vàng, bên trong có 100 túi nylong màu trắng. loại túi có khóa kéo hằn miệng màu trắng, viền màu đỏ, kích thước (8x5)cm, chưa qua sử dụng.
Tại khu vực phòng ngủ, phát hiện và thu giữ: 01 kéo màu xanh, dài 12cm.
Phạm Thị Ngọc H và Nguyễn Hùng V khai nhận số thảo mộc khô nói trên là “cỏ mỹ”, H mua về phân nhỏ lại bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số 163/2024/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của phòng K - Công an tỉnh K kết luận: Thảo mộc khô trong các mẫu ký hiệu A, B, C gửi giám định đều là ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, trong đó:
- + Mẫu A có khối lượng 1,5290g.
- + Mẫu B có khối lượng 101,90g.
- + Mẫu C có khối lượng 156,60g.
Qua điều tra, xác định được:
Phạm Thị Ngọc H và Nguyễn Hùng V chung sống với nhau như vợ chồng tại thôn L, xã D, huyện D nhưng không đăng ký kết hôn, có 02 con chung. Khoảng năm 2019, V đã từng mua ma tuý loại “cỏ mỹ” về phân nhỏ bán kiếm lời, đến đầu năm 2020, H sinh con nên Vạn ngừng mua bán “cỏ mỹ”. Năm 2023, do làm ăn thua lỗ, thiếu tiền trả nợ nên cả hai bàn nhau tiếp tục mua ma túy “cỏ mỹ” về bán kiếm lời. Vì H không có việc làm và sức khoẻ yếu nên H ở nhà mua bán ma tuý, V phụ H phân nhỏ và đi giao ma tuý cho người mua những lúc rảnh rỗi. V đưa cho H sim số điện thoại 0397.791.xxx mà V đã dùng để liên hệ mua bán ma tuý trước đó để khi có người gọi điện đặt mua thì H bán cho họ.
Khoảng giữa tháng 02/2024, H lên mạng xã hội Facebook, liên hệ với một tài khoản (chưa xác định nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy “cỏ mỹ” mang nhãn hiệu “Trà, L1” với giá 2.500.000 đồng về phân ra nhiều túi nhỏ để bán kiếm lời.
Từ ngày 21/02/2024 đến khi bị bắt quả tang ngày 05/3/2024, H đã 04 lần bán ma túy “cỏ mỹ” cho Đỗ Sỹ Q, cụ thể:
- - Lần 1: Khoảng 15 giờ ngày 21/02/2024, Q gọi điện thoại cho H hỏi mua 1 túi “cỏ mỹ”, giá 50.000 đồng. H đồng ý và hẹn giao ma túy tại chợ V1, gần cây xăng D1, thuộc thôn T, xã D. Q mang về nhà sử dụng hết.
- - Lần 2: Khoảng 9 giờ ngày 28/02/2024, tại chợ V1, H bán 01 túi “cỏ mỹ” cho Q với giá 50.000 đồng.
- - Lần 3: Khoảng 11 giờ ngày 04/3/2024, tại chợ V1, H bán cho Q 01 túi ma túy “cỏ mỹ” với giá 50.000 đồng.
- - Lần 4: Khoảng 9 giờ ngày 05/3/2024, Q gọi điện thoại cho H hỏi mua một túi ma tuý “cỏ mỹ” giá 50.000 đồng và hẹn giao hàng tại chợ V1, H đồng ý. Q điều khiển xe môtô SH biển số 79D1-896.55 đến điểm hẹn chờ H. H lấy 01 túi ma tuý “cỏ mỹ” đã phân sẵn mang theo rồi điều khiển xe môtô Airblade biển số 79D1-769.58 đến điểm hẹn để bán cho Q như thoả thuận. Tại chợ V1, khi Q và H đang mua bán 01 túi ma tuý “cỏ mỹ” thì bị bắt quả tang như trên.
Ngoài ra, H còn khai nhận đã nhiều lần bán ma túy “cỏ mỹ” cho Nguyễn Minh H1 (Sinh năm: 1998, trú thôn T, xã D, huyện D) tại đường D, xã D, huyện D; V khai nhận V đã từng giúp H đi giao ma tuý cho các đối tượng khác tên “Han”, “Quậy, “Ty ca” và một người khác (không rõ nhân thân lai lịch) trên địa bàn huyện D.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V, Đỗ Sỹ Q và Nguyễn Minh H1 đều thừa nhận hành vi mua, bán ma túy, loại “cỏ mỹ” như trên.
Về vật chứng vụ án:
- - Số thảo mộc khô trong các mẫu ký hiệu A, B,C gửi giám định trong đó mẫu ký hiệu A đã sử dụng hết trong quá trình giám định, các mẫu ký hiệu B, C còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là 94,3g và 146,67g.
- - Số tiền 5.550.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Ngọc H (đã nộp kho bạc).
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng kèm theo sim số 0348.126.051 thu giữ của Đỗ Sỹ Q (đã trả lại cho chủ sở hữu).
- - 01 xe mô tô loại SH màu xám, biển số 79D1-896.55 thu giữ của Đỗ Sỹ Q (đã trả lại cho chủ sở hữu).
- - 01 điện thoại loại VIVO màu đen kèm sim số 0777. 58 56 65 và 01 xe mô tô loại AirBlade biển số 79D1-769.58 thu giữ của Phạm Thị Ngọc H.
- - 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu đen kèm sim 0899.37 81 22 thu giữ của Nguyễn Hùng V.
- - 01 máy hàn điện màu trắng đỏ; 01 túi nylong màu vàng, bên trong có 100 túi nylong màu trắng, loại túi có khóa kéo hằn miệng màu trắng, viền màu đỏ, kích thước (8x5)cm, chưa qua sử dụng và 01 kéo màu xanh, dài 12cm.
Tại Cáo trạng số 69/CT–VKSDK ngày 25 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V: xử phạt bị cáo H từ 07 năm 06 tháng từ đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo V từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam;
+ Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu huỷ đối với số ma tuý trong các mẫu ký hiệu B, C gửi giám định còn lại;
- - Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với: Số tiền 50.000 đồng; 01 điện thoại loại VIVO màu đen kèm sim số 0777. 58 56 65 và 01 xe mô tô loại AirBlade biển số 79D1-769.58 thu giữ của Phạm Thị Ngọc H;
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 máy hàn điện màu trắng đỏ; 01 túi nylong màu vàng, bên trong có 100 túi nylong màu trắng, loại túi có khóa kéo hằn miệng màu trắng, viền màu đỏ, kích thước (8x5)cm, chưa qua sử dụng và 01 kéo màu xanh, dài 12cm thu giữ tại nơi ở của các bị cáo;
- - Trả lại số tiền 5.500.000 đồng cho bị cáo H;
- - Trả lại cho Nguyễn Hùng V: 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu đen kèm sim 0899.37 81 22.
- - Đối với các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra là đúng quy định nên không xét gì thêm.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Á và những người làm chứng đều vắng mặt, tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh:
Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện D lập ngày 05/3/2024, biên bản khám xét ngày 05/3/2024 và bằng những vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, Phạm Thị Ngọc H đang bán trái phép 1,5290g ma túy, loại MDMB-4en-PINACA cho Đỗ Sỹ Q tại khu vực chợ V1 trên đường T, thuộc thôn T, xã D, huyện D, thì bị bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại thôn L, xã D, huyện D, phát hiện Phạm Thị Ngọc H và Nguyễn Hùng V đang tàng trữ 258,5g ma túy, loại MDMB-4en-PINACA để bán. Trước đó, Phạm Thị Ngọc H và Nguyễn Hùng V đã nhiều lần bán ma túy, loại MDMB-4en-PINACA cho Đỗ Sỹ Q, Nguyễn Minh H1 và nhiều người khác không rõ nhân thân lai lịch.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Thị Ngọc H và Nguyễn Hùng V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 69/CT-VKSDK ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét tính chất mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, góp phần tạo ra mầm mống của những tệ nạn xã hội và tội phạm. Các bị cáo tuy không sử dụng ma túy nhưng biết tác hại của ma túy, để có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã tiếp tay bán ma túy cho người khác sử dụng để rồi dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo H có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo V đã từng mua bán trái phép “cỏ mỹ” và Công an xã D đã mời lên làm việc để tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Tại Công an xã D, cả hai bị cáo đều cam kết không tiếp tục mua bán trái phép “cỏ mỹ”, tuy nhiên, sau đó các bị cáo lại tiếp tục thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo H đã từng bị Toà án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 05/HSST ngày 30/11/2004. Bị cáo chưa bồi thường dân sự 3.000.000 đồng cho bị hại nhưng được bị hại rút đơn yêu cầu và không yêu cầu bị cáo H tiếp tục bồi thường, do đó, lần phạm tội này của bị cáo không xem là tái phạm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét vai trò của các bị cáo và quyết định hình phạt:
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Việc khởi xướng mua bán trái phép chất ma tuý đều do hai bị cáo cùng thống nhất, trong đó, bị cáo H là người đứng ra trực tiếp mua ma tuý “Cỏ mỹ” về phân nhỏ ra bán lại kiếm lời, bị cáo V là người giúp sức cho bị cáo H trong việc mua bán ma tuý nên bị cáo H có vai trò tích cực hơn bị cáo V. Mặt khác, bị cáo H có nhân thân xấu, bị cáo V chưa có tiền án, tiền sự, do đó, cần xử phạt bị cáo H mức án cao hơn bị cáo V là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng để sung vào công quỹ nhà nước. Xét tính chất mức độ tội phạm do các bị cáo thực hiện, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị Ngọc H, buộc bị cáo H phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp trong quá trình điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xét gì thêm.
- - Đối với số ma tuý trong các mẫu ký hiệu B, C gửi giám định còn lại cần tịch thu tiêu huỷ;
- - Đối với số tiền 5.550.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Ngọc H, trong đó: Số tiền 50.000 đồng thu giữ trên tay H là do H có được từ việc bán ma tuý cho Đỗ Sỹ Q nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; số tiền 5.500.000 đồng thu giữ trong túi quần của H, H khai số tiền này có được từ việc hốt huê, do đó số tiền này không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
- - Đối với các vật chứng đang tạm giữ gồm: 01 điện thoại loại VIVO màu đen kèm sim số 0777. 58 56 65 thu giữ của Phạm Thị Ngọc H: Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
- - Đối với 01 xe mô tô loại AirBlade biển số 79D1-769.58 thu giữ của Phạm Thị Ngọc H: H khai chiếc này xe do H mua trả góp của ông Nguyễn Á với giá 42,5 triệu đồng, đã trả 25,5 triệu đồng, còn nợ 17 triệu đồng. Quá trình điều tra, ông Á và bị cáo H thống nhất giao cho ông Á được thu hồi lại chiếc xe trên để cấn trừ số tiền mua xe mà bị cáo H còn nợ. Xét thấy, bị cáo H mua và sử dụng xe làm phương tiện đi bán ma tuý, chiếc xe này do H đứng tên chủ sử dụng, do đó, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô biển số 79D1-769.58 theo quy định. Trường hợp, ông Nguyễn Á và bị cáo H có tranh chấp về hợp đồng mua bán xe thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.
- - Đối với: 01 máy hàn điện màu trắng đỏ, 01 túi nylong màu vàng, bên trong có 100 túi nylong màu trắng, loại túi có khóa kéo hằn miệng màu trắng, viền màu đỏ, kích thước (8x5)cm, chưa qua sử dụng và 01 kéo màu xanh, dài 12cm: Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu đen kèm sim 0899.378.122 thu giữ của Nguyễn Hùng V. Qua kiểm tra dữ liệu, xác định được chiếc điện thoại kèm sim số này không liên quan đến việc mua bán ma tuý nên cần trả lại cho bị cáo V.
[9] Đối với đối tượng đã bán ma tuý “cỏ mỹ” qua mạng xã hội cho Phạm Thị Ngọc H, cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.
[10] Đối với các đối tượng Đỗ Sỹ Q, Nguyễn Minh H1 đã mua ma tuý do H bán, qua xét nghiệm kết quả âm tính với chất ma tuý nên cơ quan điều tra không xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ. Hành vi tàng trữ 1,5290 gam ma tuý loại MDMB-4en-BINACA của Đỗ Sỹ Q chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự và cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng đối với Q về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là đúng quy định. Các đối tượng “Han”, “Quậy”, “Ty Ca” không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
[11] Về án phí:
Các bị cáo Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
1.1. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Phạm Thị Ngọc H;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc H 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 09/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo Phạm Thị Ngọc H nộp phạt số tiền 10.000.000₫ vào ngân sách Nhà nước.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Hùng V;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng V 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 21/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với: Số tiền 50.000 đồng; 01 điện thoại loại VIVO màu đen kèm sim số 0777. 58 56 65; 01 xe mô tô loại AirBlade biển số 79D1-769.58 thu giữ của Phạm Thị Ngọc H;
- - Tịch thu, tiêu huỷ đối với: 01 máy hàn điện màu trắng đỏ; 01 túi nylong màu vàng, bên trong có 100 túi nylong màu trắng, loại túi có khóa kéo hằn miệng màu trắng, viền màu đỏ, kích thước (8x5)cm, chưa qua sử dụng và 01 kéo màu xanh, dài 12cm thu giữ tại nơi ở của bị cáo Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V;
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.500.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Ngọc H tại Kho bạc nhà nước huyện D để bảo đảm thi hành án;
- - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu đen kèm sim 0899.37 81 22 cho bị cáo Nguyễn Hùng V.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc các bị cáo Phạm Thị Ngọc H, Nguyễn Hùng V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Mai |
Quyết định số 12/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số quyết định: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Tù có thời hạn
