|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 118/2024/QÐST-HNGĐ |
Quận 5, ngày 16 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Linh Sương.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Phòng mở phiên họp Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết Việc dân sự về hôn nhân và gia đình thụ lý số 236/2018/TLST-HNGĐ ngày 12/6/2018, về việc: “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Ông Căn Văn P, sinh năm 1954
- Bà Căn Tường A, sinh năm 1960
Cùng địa chỉ: Số A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 3) Ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), sinh năm 1949
Địa chỉ: Số E (Lầu A) N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Đạt H, sinh năm 1939
Địa chỉ: Số A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 2) Ông Ngô Đại Đ, chết năm 2022
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Đại Đ: Bà Lý Lâm L, sinh năm 1962
Địa chỉ: 6 đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tất cả đều vắng mặt – Có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, lời trình bày của những người yêu cầu gồm ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) và bà Căn Tường A trong quá trình giải quyết việc dân sự:
Cha mẹ của ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) và bà Căn Tường A là ông Ngô Văn S và bà Căn T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 03/10/1967 (theo Trích lục chứng thư hôn thú của xã T, quận C ngày 03/10/1967 của thời Việt Nam C).
Cha mẹ của các ông bà có tất cả 10 (mười) người con, gồm:
- Ngô Đạt H, sinh năm 1939
- Căn Tùng P3, sinh năm 1947, chết năm 1992
- Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), sinh năm 1949
- Căn Chánh P4, sinh năm 1951 (được tuyên bố chết theo Quyết định tuyên bố một người là đã chết số 175/2020/QÐST-DS ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5)
- Căn Văn P, sinh năm 1954
- Căn Việt P5, sinh năm 1956, chết năm 2012
- Căn Minh P6, sinh năm 1957, chết năm 2009
- Căn Tường A, sinh năm 1960
- Ngô Đại Đ, sinh năm 1961, chết năm 2022
- Căn Thi H1, sinh năm 1962 (được tuyên bố chết theo Quyết định tuyên bố một người là đã chết số 38/2024/QÐST-VDS ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5).
Mười người kể trên là con đẻ của ông Ngô Văn S, sinh năm 1917, chết ngày 19/9/1981 và bà Căn T, sinh năm 1917, chết ngày 14/7/2004.
Ông Ngô Văn S và bà Căn T đều là người Hoa từ Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn, sinh sống từ trước khi giải phóng cho đến nay. Do vào thời điểm đăng ký khai sinh cho các con gồm Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), Căn Tường A, ông Ngô Văn S và bà Căn Thị c đăng ký kết hôn nên giấy khai sinh chỉ để tên mẹ là bà Căn T mà không có tên cha là ông Ngô Văn S. Do đó, ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (C) yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5 xác định ông Ngô Văn S, sinh năm 1917, chết năm 1981 là cha đẻ của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) để bổ sung tên cha của mình vào giấy khai sinh theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) trình bày bổ sung thời điểm khai sinh do là người Hoa và không rành tiếng Việt, mẹ ông đã khai tên Cau Nhuận P7, mẹ Cau Thị . Đến năm 1969 khi đăng ký tờ khai gia đình mới điều chỉnh lại tên ông là Căn Nhuận P2, mẹ là Căn Thị .1 Đến khi hòa bình thống nhất đất nước, ông được đổi tên lại theo họ cha từ tên Căn Nhuận P2 thành Ngô Nhuận P1, liên tục sử dụng tên này trong hộ khẩu và căn cước công dân đến thống nhất cho đến hiện nay. Ông cam kết Cau Nhuận P7, sinh ngày 30/8/1949 (theo khai sinh), Căn Nhuận P2 (theo tờ khai gia đình) và Ngô Nhuận P1 (theo hộ khẩu, căn cước công dân), là cùng một người.
Ông Căn Văn P, bà Căn Tường A đều trình bày xác nhận phần trình bày về tên của ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) là đúng; đối với ông Ngô Đại Đ, chết năm 2022, có vợ là bà Lý Lâm L, sinh năm 1962, không có con. Do đó, việc Tòa án triệu tập bà Lý Lâm L tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ, những người yêu cầu giải quyết việc dân sự đều đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Đạt H trình bày: Bà đồng ý với phần trình bày của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) về quan hệ nhân thân và gia đình. Bà xác nhận phần trình bày về tên của ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) là đúng; đối với ông Ngô Đại Đ, chết năm 2022, có vợ là bà Lý Lâm L, sinh năm 1962, không có con. Do đó, việc Tòa án triệu tập bà Lý Lâm L tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ, bà đều đồng ý.
Đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), bà đồng ý, đề nghị Tòa án xác định ông Ngô Văn S, sinh năm 1917, chết năm 1981 là cha đẻ của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (C).
Ông Ngô Đại Đ trong quá trình Tòa án giải quyết việc dân sự, ông Đ đồng ý với phần trình bày của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) về quan hệ nhân thân và gia đình. Ông Đ cũng xác nhận phần trình bày về tên của ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) là đúng.
Nguời kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Đại Đ là bà Lý Lâm L trình bày:
Bà L là vợ của ông Ngô Đại Đ có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10/3/1990. Trong quá trình chung sống, bà và ông Đ không có con chung. Ông Ngô Đại Đ có cha tên là Ngô Văn S, mất năm 1981 và mẹ tên Căn T, mất năm 2004. Theo bà biết, các anh chị em trong gia đình của ông Đ gồm có: Ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) có yêu cầu xác định cha là ông Ngô Văn S là cha đẻ của các ông bà nêu trên. Tòa án có xác định chồng bà là ông Ngô Đại Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Ngô Đại Đ đã chết năm 2022. Nay bà được Tòa án xác định là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Đại Đ, bà đồng ý kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Đại Đ và đồng ý với yêu cầu giải quyết việc dân sự của các ông Căn Văn P, bà Căn Tường A, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) vì bà được biết ông Đ có các anh chị em sau: Ngô Đạt H, sinh năm 1939; Căn Tùng P3, sinh năm 1947, chết năm 1992; Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), sinh năm 1949; Căn Chánh P4, sinh năm 1951 (được tuyên bố chết theo Quyết định tuyên bố một người là đã chết số 175/2020/QÐST-DS ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 5); Căn Văn P, sinh năm 1954; Căn Việt P5, sinh năm 1956, chết năm 2012; Căn Minh P6, sinh năm 1957, chết năm 2009; Căn Tường A, sinh năm 1960; Căn Thi H1, sinh năm 1962, chết không rõ. Các người con nêu trên đều có chung người cha và mẹ là ông Ngô Văn S và bà Căn T nhưng quá trình làm giấy khai sinh thì không có tên cha, chỉ có tên mẹ.
Tại phiên họp,
Những người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Đại Đ đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc của Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 68, Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung, xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu nhận thấy căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 5 thụ lý và giải quyết yêu cầu xác định cha cho con của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) là đúng quy định; căn cứ Điều 88, Điều 102 của Luật Hôn nhân và G đình2014, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2); về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, miễn lệ phí cho những người yêu cầu theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 5 nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông Căn Văn P, bà Căn Tường A và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) yêu cầu xác định ông Ngô Văn S là cha đẻ của ông Căn Văn P, bà Căn Tường A và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) nên đây là việc dân sự yêu cầu xác định cha cho con theo quy định tại khoản 1 Điều 88, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Căn Văn P, bà Căn Tường A có cùng địa chỉ nơi cư trú số A P, Phường A, Quận E và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) có địa chỉ cư trú tại E (Lầu A) N, Phường G, Quận E nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5 theo điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về người tham gia tố tụng:
Đối với ông Ngô Đại Đ, quá trình giải quyết việc dân sự, ông Đ được Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ông Đ chết năm 2022 theo Trích lục khai tử số 258/TLKT-BS ngày 13/4/2022 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Trích lục khai sinh số 189/TLKS-BS ngày 11/4/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, ông Ngô Đại Đ có mẹ là Căn T, sinh năm 1917 và cha là Ngô Văn S sinh năm 1917; theo Công văn số 682/UBND ngày 14/6/2023 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A xác định ông Ngô Đại Đ có vợ là bà Lý Lâm L; tại các bản tự khai và cam kết, bà Lý Lâm L cam kết bà và ông Đ quá trình chung sống không có con chung, con nuôi theo quy định; do đó Tòa án triệu tập và xác định bà Lý Lâm L là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ theo khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về thủ tục tố tụng:
Những người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Căn Văn P, bà Căn Tường A và ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Đạt H, bà Lý Lâm L có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa án, căn cứ theo Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
[2] Về nội dung:
Xét Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 20 tháng 11 năm 2018, ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (C), bà Căn Tường A yêu cầu Tòa án xác định ông Ngô Văn S là cha đẻ của ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) và bà Căn Tường A, nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ nhân thân của ông Ngô Văn S:
Ông Ngô Văn S, sinh năm 1917, chết ngày 19/9/1981 theo Giấy chứng tử số 44-P3, quyển số 01 đăng ký ngày 20/9/1981 tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Căn T, sinh năm 1917, chết ngày 14/5/2004 theo giấy chứng tử số 42/2004, quyển số 01 đăng ký ngày 14/7/2004 tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E.
Theo Trích lục chứng thư hôn thú số hiệu 119 ngày 03/10/1967 tại xã T, quận C, tỉnh (thành phố) Định Tường thể hiện ông Ngô Văn S và bà Căn Thị c1 ngày 15 tháng 7 năm 1967.
Theo Tờ khai gia đình ngày 08 tháng 12 năm 1975, ông Ngô Văn S đứng tên gia trưởng kê khai có bà Căn T (sinh năm 1917) là vợ và những người con tên: Ngô Đạt H (sinh năm 1939), Căn Tùng P3 (sinh năm 1947), Căn Nhuận P2 (sinh năm 1949), Căn Chánh P4 (sinh năm 1951), Căn Văn P (sinh năm 1954), C (sinh năm 1956), Căn Minh P6 (sinh năm 1957), Căn Tường A (sinh năm 1960), Ngô Đại Đ (sinh năm 1961) và Căn Thi H1 (sinh năm 1962).
Tại Công văn số 4001/CAQ-QLHC ngày 01/6/2023 của Công an Q, cung cấp thông tin hồ sơ lưu trữ tại tàng thư hồ sơ cư trú có nội dung:
“Bản khai nhân khẩu NK1 của ông Ngô Văn S tự khai ngày 28/7/1976 thể hiện các thông tin: Căn T, sinh năm 1917, vợ; Ngô Đạt H, sinh năm 1939, con; Căn Tùng P3, sinh năm 1947, con; Căn Văn P, sinh năm 1954, con; Căn Việt P5, sinh năm 1956, con; Căn Minh P6, sinh năm 1957, con; Căn Tường A, sinh năm 1960, con; Ngô Đại Đ, sinh năm 1961, con; Căn Nhuận P2, sinh năm 1949, con, Căn Chánh P4, sinh năm 1951, con, bị bắt lính...
Bản khai danh sách nhân khẩu NK2 của hộ Ngô Văn S ngày 17/8/1976 số nhà A P thể hiện các thông tin: Phần A những người hiện có mặt, có tên trong tờ khai gia đình của ngụy quyền cấp trước đây hoặc đã được chính quyền cách mạng đăng ký thường trú có thông tin: Căn T, sinh năm 1917, vợ; Ngô Đạt H, sinh năm 1939, con; Căn Tùng P3, sinh năm 1947, con; Căn Văn P, sinh năm 1954, con; Căn Việt P5, sinh năm 1956, con; Căn Minh P6, sinh năm 1957, con; Căn Tường A, sinh năm 1960, con; Ngô Đại Đ, sinh năm 1961, con; Phần B những người có tên trong tờ khai gia đình ngụy quyền cấp trước đây hiện vắng mặt: Căn Nhuận P2, sinh năm 1949, con, lý do vắng mặt ở 89C Nguyễn Duy D; Căn Chánh P4, sinh năm 1951, con, lý do vắng mặt bị bắt quân dịch; Căn Thi H1, sinh năm 1962, con, lý do vắng mặt ở 671/10 N...
Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ, chủ hộ Ngô Văn S, số nhà A P cấp ngày 01/10/1976 có thể hiện: Căn T, sinh năm 1917, vợ, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Ngô Đạt H, sinh năm 1939, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Căn Văn P, sinh năm 1954, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Căn Việt P5, sinh năm 1956, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Căn Minh P6, sinh năm 1957, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Căn Tường A, sinh năm 1960, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976; Ngô Đại Đ, sinh năm 1961, con, đăng ký thường trú ngày 01/10/1976;”
Như vậy, tại các bản kê khai và cung cấp thông tin gia đình nêu trên, ông Ngô Văn S kê khai có vợ là bà Căn T (sinh năm 1917) và những người con tên: Ngô Đạt H (sinh năm 1939), Căn Tùng P3 (sinh năm 1947), Căn Nhuận P2 (sinh năm 1949), Căn Chánh P4 (sinh năm 1951), Căn Văn P (sinh năm 1954), C (sinh năm 1956), Căn Minh P6 (sinh năm 1957), Căn Tường A (sinh năm 1960), Ngô Đại Đ (sinh năm 1961) và Căn Thi H1 (sinh năm 1962).
Về mặt pháp lý, hộ tịch:
Đối với ông Ngô Đại Đ, bà Ngô Đạt H: Theo Trích lục khai sinh số 2653/TLKS-BS ngày 25/7/2017 của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, bà Ngô Đạt H có mẹ là Căn T và cha là Ngô Văn S; Trích lục khai sinh số 189/TLKS-BS ngày 11/4/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, ông Ngô Đại Đ có mẹ là Căn T, sinh năm 1917 và cha là Ngô Văn S sinh năm 1917.
Đối với bà Căn Tường A, ông Căn Văn P: Theo Trích lục khai sinh số 3407/TLKS-BS ngày 05/10/2017 của Ủy ban nhân dân Quận E, bà Căn Tường A có mẹ là Căn T, Trích lục khai sinh số 2576/TLKS-BS ngày 24/7/2017 của Ủy ban nhân dân Quận E, ông Căn Văn P có mẹ là Căn T;
Đối với ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2): Theo Giấy khai sinh số 9219, quyển số 17, sao từ sổ đăng ký khai sinh ngày 30/6/2015 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cấp, ông Cau Nhuận P7 có mẹ là Cau T1; theo Trích lục cải chính hộ tịch số 244/TLCCHT ngày 27/9/2017 của Ủy ban nhân dân Quận E, cải chính họ tên mẹ và họ bản thân trong sổ đăng ký khai sinh số 9219 từ C cải chính thành Căn Nhuận P2, có mẹ Cau T1, cải chính thành mẹ Căn Thị .1
Theo Đơn xác nhận đề ngày 15 tháng 12 năm 1982, Đơn xin xác nhận đề ngày 28 tháng 4 năm 2017 có xác nhận của Công an P8, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 04 tháng 7 năm 2017 và Bản tường trình và cam kết đề ngày 25 tháng 4 năm 2017 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, số chứng thực 000516, quyển số 01SCT/CK thể hiện Cau Nhuận P7, Căn Nhuận P2, Ngô Nhuận P1 là một người.
Như vậy, trong số các người con của ông Ngô Văn S (theo ông S tự kê khai nêu trên), có bà Ngô Đạt H và ông Ngô Đại Đ về mặt pháp lý có cha đẻ là ông Ngô Văn S và mẹ là bà Căn Thị .1
[2.2] Về quan hệ huyết thống về mặt sinh học:
Ngày 01/11/2018, Tòa án đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 239/2018/QĐ-TCGĐ trưng cầu Trung tâm pháp y, địa chỉ số C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc giám định DNA để xác định huyết thống giữa ông Ngô Đại Đ, ông Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2). Theo Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.299-2018/AND ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố H kết luận: “Căn Văn Phát, Ngô Nhuận P1 (C) và Ngô Đại Đ có quan hệ huyết thống theo dòng cha”.
Và vào ngày 01/11/2018, Tòa án cũng đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 240/2018/QĐ-TCGĐ trưng cầu Trung tâm pháp y, địa chỉ số C T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc giám định DNA để xác định huyết thống giữa bà Căn Tường A, bà Ngô Đạt H. Theo Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.299A-2018/ADN ngày 12 tháng 11 năm 2018 và Công văn số 04/TTPY.GT-19 ngày 09/5/2019 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố H kết luận: “Căn Tường Anh có quan hệ huyết thống chị em gái với Ngô Đạt H” và “bà Căn Tường A và bà Ngô Đạt H có cùng người cha sinh học”;
Như vậy, bà Căn Tường A có quan hệ huyết thống, có cùng người cha sinh học với bà Ngô Đạt H; ông Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) có quan hệ huyết thống theo dòng cha với Ngô Đại Đ; bà Ngô Đạt H và ông Ngô Đại Đ về mặt pháp lý có cha là ông Ngô Văn S.
Tại các bản tự khai và quá trình giải quyết việc dân sự, các ông bà Ngô Đạt H, Ngô Đại Đ đều trình bày và thừa nhận các ông, bà Ngô Đạt H, Ngô Đại Đ, Căn Tường A; ông Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2) đều có chung người cha đẻ là ông Ngô Văn S và mẹ đẻ bà Căn Thị .1
Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở để xác định ông Ngô Văn S là cha đẻ của các ông bà Căn Tường A, Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (C) theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo khoản 1 Điều 90 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết”; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình ...”. Do đó, việc các ông bà Căn Văn P, Ngô Nhuận P1 (C), Căn Tường A yêu cầu Tòa án công nhận ông Ngô Văn S là cha cho các ông bà là có cơ sở và có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), bà Căn Tường A phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), bà Căn Tường A đều là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn lệ phí nên được xem xét chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; hoàn lại số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng cho ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (C), bà Căn Tường A.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; các điều 369, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự2015;
Áp dụng các điều 88, 90, 101, 102 của Luật Hôn nhân và G đình2014;
Áp dụng Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận P2), bà Căn Tường A:
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Xác định ông Ngô Văn S, sinh năm 1917, chết ngày 19/9/1981 là cha đẻ của ông Căn Văn P (sinh ngày 29/5/1954; đăng ký khai sinh tại Tòa hành chánh Quận E, S, số 5414 ngày 31/5/1954; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/4/2021), ông Ngô Nhuận P1 (Căn Nhuận Phát) (sinh ngày 30/8/1949; có Giấy khai sinh số 9219, quyển số 17, đăng ký ngày 30/8/1949 tại Chợ L; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/8/2021) và bà Căn Tường A (sinh ngày 05/11/1960; đăng ký khai sinh tại Tòa hành chánh Quận E, S, số 21819 ngày 08/11/1960; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 23/4/2021).
Ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (C), bà Căn Tường A được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Hoàn lại số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) cho ông Căn Văn P, ông Ngô Nhuận P1 (C), Căn Tường A theo Biên lai số AG/2014/0006311 ngày 12/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết theo quy định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Linh Sương |
Quyết định số 118/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về xác định cha cho con
- Số quyết định: 118/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xác định cha cho con
