TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1157/2024/DS-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
2/ Bà Nguyễn Thị Hòa Bình
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1946/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2024/QĐXXST-DS ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (văn bản ủy quyền số 2540/2023/UQ-TGĐ ngày 15/8/2023); Địa chỉ: 8 đường số H, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Đỗ Ngọc H; sinh năm 1978; Cư trú tại: Số D Lô A cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S (sau đây gọi là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 02/12/2019, bà Đỗ Ngọc H có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với các nội dung như sau:
- Hạn mức vay: 50.000.000 đồng
- Thời hạn vay: 60 tháng
- Lãi suất vay: 31,2%/năm
- Lãi suất quá hạn: 27.897.789 đồng
- Phương thức trả nợ: gốc lãi trả hàng tháng
- Mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 63.836.996 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 52.651.388 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/7/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 30/07/2023, Bà H còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 57.533.230 đồng
- Lãi quá hạn: 27.897.789 đồng
- Tổng cộng: 85.431.019 đồng (bằng chữ: tám mươi lăm triệu, bốn trăm ba mươi mốt ngàn, mười chín đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Ngọc H thanh toán ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 20/6/2024 là 109.813.537 đồng, trong đó dư nợ gốc là 57.533.230 đồng và lãi quá hạn là 52.280.307 đồng. Đồng thời, bà Đỗ Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là bà Đỗ Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, ngoại trừ việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng cụ thể xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thực hiện đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181, Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Đỗ Ngọc H cư trú tại Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt và bị đơn là bà Đỗ Ngọc H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[4]. Về các yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng dư nợ còn thiếu tính đến ngày 20/6/2024 là 109.813.537 đồng, trong đó dư nợ gốc là 57.533.230 đồng và lãi quá hạn là 52.280.307 đồng. Đồng thời, bà Đỗ Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/12/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng) cho đến ngày bà H trả dứt nợ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/12/2019, bảng tính lãi, lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai có cơ sở xác định nguyên đơn cấp thẻ tín dụng cho bà H với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ bà H đã không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng TMCP S theo thông báo giao dịch hàng tháng. Tính đến ngày 23/7/2022 bị đơn còn chưa thanh toán số tiền nợ gốc 57.533.230 đồng. Ngày 23/7/2022 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp.
Trong thời gian sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã nhiều lần không thực hiện việc thanh toán đúng hạn, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 109.813.537 đồng, trong đó dư nợ gốc là 57.533.230 đồng và lãi quá hạn là 52.280.307 đồng, thanh toán một lần kể ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà H còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009 của ngân hàng N hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận
[5] Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa, không có lý do cũng không cung cấp các chứng cứ nào khác đối với yêu cầu của nguyên đơn, thể hiện bị đơn thiếu tinh thần thiện chí trong việc thanh toán nợ và bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự. Cụ thể những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung căn cứ quy định tại Điều 463 và 466 Bộ Luật dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.490.677 đồng.
Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 463 và 466 Bộ Luật dân sự 2015
Căn cứ vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án năm 2008; Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S.
Buộc bà Đỗ Ngọc H phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 109.813.537 đồng, trong đó dư nợ gốc là 57.533.230 đồng và lãi quá hạn là 52.280.307 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 21/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Đỗ Ngọc H còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/12/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng TMCP S) các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.490.677 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 2.136.000 đồng cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S theo biên lai thu số AA/2023/0028728 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3/ Quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S, bà Đỗ Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Hiền Long |
Quyết định số 1157/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 1157/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, bị đơn: Đỗ Ngọc H
