Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIÀNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Số: 111/2024/QĐST-

HNGĐ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Cẩm Giàng, ngày 16 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên

Các hội thẩm nhân dân: Bà Khương Thị Lơ và bà Nguyễn Thị Hương Giang

Căn cứ vào các Điều 212; Điều 213; Điều 235 và Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn”.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị N, sinh năm 1986

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Địa chỉ liên lạc: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/01/2024).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn D1, sinh năm 1974

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của anh D1: Ông Ninh Văn L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/5/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND xã C, huyện C Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thế T – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã C.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thế T: Ông Phạm Thanh T1 – Chức vụ: Công chức địa chính xã C, huyện C Địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

II. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

  1. Về tài sản chung: Chị Triệu Thị N và anh Phạm Văn D1 thống nhất xác định khối tài sản chung, có tổng trị giá = 5.147.320.852 đồng (Năm tỷ, một trăm bốn mươi bẩy triệu, ba trăm hai mươi ngàn, tám trăm năm mươi hai đồng), bao gồm:
    1. Nhà đất tại thửa đất số 382, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất tại Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương được UBND huyện C, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 25/9/2017 mang tên Phạm Văn D1 và Triệu Thị N, có diện tích theo hiện trạng là 498,5m2 (trong đó có 200m2 đất ở x 12.000.000đ/m2 = 2.400.000.000₫; 298,5m2 đất trồng cây hàng năm x 4.500.000đ/m2 = 1.343.250.000₫); tài sản trên đất là nhà và các công trình khác, trị giá = 604.070.852 đồng. Tổng cộng giá trị đất và các tài sản trên đất = 4.347.320.852 đồng (Bốn tỷ, ba trăm bốn mươi bẩy triệu, ba trăm hai mươi ngàn, tám trăm năm mươi hai đồng).
    2. 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest – BKS: 34A-387.32, trị giá còn lại theo Hội đồng định giá = 800.000.000 đồng (T2 trăm triệu đồng chẵn).
  2. Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự :
    1. Xác định diện tích đất 8,4 m2 tại thửa đất số 382, tờ bản đồ số 05, có địa chỉ tại Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, được UBND huyện C, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 25/9/2017 mang tên Phạm Văn D1 và Triệu Thị N, làm lối đi chung theo hình vẽ, được xác định bởi các điểm từ B3-B4-B6-B7 đến B3 (có sơ đồ kèm theo);
    2. Giao cho chị Triệu Thị N được sở hữu, sử dụng diện tích 157,2m2 đất (trong đó 80m2 đất ở x 12.000.000đ/m2 = 960.000.000₫; 77,2m2 đất trồng cây hàng năm x 4.500.000đ/m2 = 347.400.000đ) thuộc thửa đất số 382, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất tại Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, trên đất có một phần ngôi nhà 01 tầng bê tông cốt thép, trên có lợp chống nóng bằng ngói đỏ trị giá = 286.593.543 đồng; 01 mái tôn 35,3 m2 trị giá = 7.364.254 đồng; 01 nhà vệ sinh trị giá = 17.924.000₫). Tổng trị giá tài sản chị N được chia là 1.619.281.797 đồng (Một tỷ, sáu trăm mười chín triệu, hai trăm tám mươi mốt ngàn, bẩy trăm chín mươi bẩy đồng), theo hình vẽ được giới hạn bởi các điểm từ B9-A9-A8-B1-B2-B3-B4-B5-C8-C1 đến B9 (có sơ đồ kèm theo); Tạm giao diện tích 31,2m2 đất cho chị N được quyền sử dụng, trên đất có một phần ngôi nhà 01 tầng bê tông cốt thép, trên có lợp chống nóng bằng ngói đỏ cho đến khi có quan nhà nước có thẩm quyền có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất, theo hình vẽ được giới hạn bởi các điểm từ C - C6-C7-C8 đến C1 (có sơ đồ kèm theo);
    3. Giao cho anh Phạm Văn D1 được sở hữu, sử dụng diện tích đất 332,9m2 (trong đó 120 m2 đất ở x 12.000.000đ/m2 = 1.440.000.000₫; 221,3m2 đất trồng cây hàng năm x 4.500.000đ/m2 = 995.850.000đ) thuộc thửa đất số 382, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất tại Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, trên đất có 01 ngôi nhà mái bằng trị giá = 246.454.055₫; 01 mái tôn trị giá 8.574.000đ; 01 sân lát đá công nghiệp, trị giá = 13.894.000đ; 01 nhà tắm trị giá 23.267.000đ; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest – BKS: 34A-387.32 = 800.000.000đ. Tổng trị giá tài sản anh D1 được chia là 3.528.039.055 đồng (Ba tỷ năm trăm hai mươi tám triệu, không trăm ba mươi chín ngàn, không trăm năm mươi lăm đồng), theo hình vẽ được giới hạn bởi các điểm từ B1-A7-A6-A4-B8-B6-B7-B3-B2 đến B1 (có sơ đồ kèm theo). Chị N và anh D1 tự thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản với tỷ lệ % như sau: Chị N được hưởng 45% = 2.316.294.382 đồng, do phần tài sản của chị N được quản lý sử dụng = 1.619.281.797 đồng nên chị N được nhận số tiền chênh lệch tài sản do anh D1 trả số tiền 697.012.585 đồng; Anh D1 được hưởng 55% trị giá tài sản = 2.831.026.470 đồng, do phần tài sản anh D1 được quản lý sử dụng có giá trị = 3.528.039.055 đồng nên anh D1 phải trả chêch lệch trị giá tài sản cho chị N số tiền là 697.012.585 đồng. Chị Triệu Thị N và anh Phạm Văn D1 có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục điều chỉnh, đăng ký biến động đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật.
    4. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị N đối với tài sản là các đồ dùng sinh hoạt nằm trong ngôi nhà chính xây mái bằng (số A), gồm: 01 bộ tràng kỷ (gỗ gụ) mua năm 2020; 01 sập (gỗ chắc), mua năm 2016-2017); 01 tủ chè (gỗ chắc), mua năm 2009; 01 tủ chùa (gỗ hương), mua năm 2010; 01 tủ rượu (gỗ gụ), mua năm 2010; 01 bàn thờ (gỗ gụ), mua năm 2011; 02 giường (gỗ gụ), mua năm 2019; 01 tủ quần áo (gỗ gụ) mua năm 2022; 02 tủ quần áo (gỗ công nghiệp), mua năm 2022; 03 điều hòa; Các đồ dùng sinh hoạt nằm trong ngôi nhà xây (số B), gồm: 01 bộ bàn ăn (gỗ gụ), mua năm 2020; 01 bộ bàn ghế (gỗ gụ), mua năm 2012; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic (mua năm 2013); 01 tủ lạnh nhãn hiệu Hitachi (mua năm 2019); 01 quầy rượu (gỗ gụ), làm năm 2018-2019); 01 bộ bàn bếp + tủ bếp (gỗ dổi), làm năm 2018-2019) và một số loại cây trên thửa đất. Hai bên thống nhất thỏa thuận các đồ dùng sinh hoạt nằm tại ngôi nhà nào mà bên đó được hưởng thì được quyền quản lý sử dụng.
    5. Về chi phí tố tụng: Chị N và anh D1 thống nhất tự thỏa thuận mỗi người phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng. Chị N đã tạm ứng chi phí số tiền 26.200.000₫ nên anh D1 phải hoàn trả cho chị N ½ số tiền chi phí tố tụng = 13.100.000₫ (Mười ba triệu, một trăm ngàn đồng).

      Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh chậm trả được quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    6. Về án phí:
      • Chị Triệu Thị N phải chịu số tiền án phí chia tài sản là 39.162.943 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng chẵn) theo biên lai tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23 số 0000139 ngày 12/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (do bà Phạm Thị D nộp thay chị Triệu Thị N), chị N phải nộp số tiền án phí còn thiểu là 21.162.943 đồng (được làm tròn lên là 21.163.000 đồng) (Hai mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi ba ngàn đồng);
      • Anh Phạm Văn D1 phải chịu số tiền án phí chia tài sản là 44.310.264 đồng (được làm tròn là 44.310.000đồng (Bốn mươi tư triệu, ba trăm mười ngàn đồng).
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
  4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Cẩm Giàng;
  • - Chi Cục thi hành án DS H.Cẩm Giàng;
  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP Tòa án..

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 111/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số quyết định: 111/2024/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Thị N - Phạm Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger