Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 111/2025/DSPT

Ngày: 14 - 3 - 2025

V/v “tranh chấp đòi lại tài sản"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hải;

Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLPT- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS - ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ bị nguyên đơn ông Phan Bảo T kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 384/2024/QĐPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số, Quyết định hoãn phiên tòa số giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Bảo T, sinh năm 1950; địa chỉ: Căn hộ C, số A, Hồ N, Phường I, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Số C đường A, Phường E, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là:

    Ông Âu Đức N, sinh năm 1985; địa chỉ: 1 Ni Sư H, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

    Ông Phan Hữu N1, sinh năm 1975; địa chỉ: I, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thúy H, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    Chỗ ở hiện nay: Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà H là: ông Nguyễn Tùng L; sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Thế H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

    Chỗ ở hiện nay: Số A, Chung cư T, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người kháng cáo: Ông Phan Bảo T là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Phan Bảo T trình bày:

Trước đây, giữa bên bà Trần Thị Thúy H có người được bà H ủy quyền là ông Đinh Thế H1 với ông Phan Bảo T đã thỏa thuận ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được công chứng Số 3651, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/5/2022 tại Văn phòng C. Theo thỏa thuận hợp đồng, bà H chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất và căn nhà gắn liền với đất tại thửa số 978 tờ bản đồ số 4, diện tích 50 m², loại đất ODT, tọa lạc tại Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ với giá 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Trước khi ký hợp đồng, ông T đã thanh toán đủ số tiền 1.000.000.000 đồng cho bên chuyển nhượng bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng nhưng ông không nhớ rõ là chuyển tiền qua tài khoản của ông H1 hay của bà H, và đã được ông H1 ký xác nhận đã nhận đủ tiền thể hiện trên “Giấy xác nhận “ ngày 28/8/2022. Tuy nhiên, do lúc đó tình hình dịch bệnh Covid 19 nên ông T chưa đi làm thủ tục đăng ký sang tên nhà đất. Khi hết dịch bệnh, ông T có đến gặp bà H thì bà yêu cầu cho bà chuộc lại nhà đất với giá 1.300.000.000 đồng (một tỷ, ba trăm triệu đồng), ông T đồng ý. Sau đó, các bên hẹn ra ký Hợp đồng chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được công chứng Số 6943, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2022 tại Văn phòng C. Bà H hẹn 1 tuần sẽ giao tiền nhưng sau đó không thực hiện đúng lời hứa. Sau nhiều lần ông T chủ động liên hệ yêu cầu bà H thực hiện giao tiền nhưng bà H cố tình không hợp tác.

Vì vậy, ông Phan Bảo T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Thúy H phải có trách nhiệm trả lại ông số tiền 1.300.000.000.000 đồng (một tỷ, ba trăm ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,5% / tháng tính từ ngày 23/11/2022. Ông T sẽ trả lại Giấy chứng nhận QSD đất, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất Số CS07293 do Sở TNMT thành phố C cấp ngày 30/11/2020 cho bà H.

- Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Trần Thị Thúy H, người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tùng L trình bày:

Bà Trần Thị Thú H2 là chủ sử dụng thửa đất số 978, diện tích 50 m², loại đất ODT, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Đất có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Trần Chí N2 và bà Lê Thị Trà K. Do giữa bà H2 và ông Đinh Thế H1 có quen biết nên bà H2 có ký Hợp đồng ủy quyền được công chứng số 2985, quyển số 01/2022 TP/CC –SCC/HĐGD ngày 20/5/2022 tại Văn phòng C1, với nội dung bà H2 ủy quyền cho ông Đinh Thế H1 thay mặt và nhân danh bà thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng thửa đất 978 nói trên. Đồng thời bà H2 có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 mượn để làm ăn.

Phía bị đơn khẳng định mặc dù bà H2 có ký hợp đồng ủy quyền cho ông H1 nhưng việc ông Đinh Thế H1 ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Phan Bảo T đối với thửa đất số 978 với giá 1.000.000.000 đồng thì bà H2 hoàn toàn không biết do ông H1 không có thông báo lại. Bà H2 không có nhận số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) của ông T giao cho ông H1, và bà cũng không có vay mượn tiền gì của ông T. Điều này được chứng minh qua két quả trích lục sao kê tại Ngân hàng TMCP Q.

Ngoài ra, vào ngày 23/11/2022 các bên liên quan cũng đã thống nhất ký kết Hợp đồng chấm dứt Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nội dung có ghi rõ “Các bên cam kết quyền và nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong và không tranh chấp hay khiếu nại gì về sau”.

Vì vậy, bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện, và đồng thời yêu cầu ông T giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CS07293 do Sở TNMT thành phố C cấp ngày 30/11/2020 do ông T đang giữ bản gốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Thế H1 trình bày:

Giữa ông Đinh Thế H1 và bà Trần Thị Thúy H có quen biết với nhau nên bà H có nhờ ông H1 vay tiền dùm để bà H trả nợ ngân hàng và sử dụng vào mục đích cá nhân khác. Vì thế, bà H có ký Hợp đồng ủy quyền ngày 20/5/2022 tại Văn phòng C1, theo đó bà H giao cho ông H1 toàn quyền quyết định đối với thửa đất 978 của bà H. Sau đó, đến ngày 26/5/2022, ông Đinh Thế H1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 978 cho ông Phan Bảo T tại Văn phòng C, giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Số tiền này là ông H1 giúp bà H vay của ông T, tiền lãi hàng tháng do bà H với ông Thạch T1 thỏa thuận.

Ông H1 cho rằng ông có nhận số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) do ông T giao, ông H1 có trả nợ thay bà H tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, để lấy giấy đất ra và ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T. Còn việc giữa bà H với ông T thỏa thuận như thế nào để ký chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông H1 không biết nhưng ông vẫn có mặt lúc ký tên tại Văn phòng C ngày 23/11/2022.

Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự vẫn không thỏa thuận được cách thức giải quyết vụ án nên được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS – ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phan Bảo T, về việc yêu cầu bị đơn là bà Trần Thị Thúy H trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng và tiền lãi 200.000.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000.000 đồng (một tỷ, hai trăm triệu đồng).
  2. Buộc ông Phan Bảo T trả lại bà Trần Thị Thúy H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CS07293 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 30/11/2020.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời hiệu kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28/6/2024 và ngày 06/07/2024 ông Phan Bảo T có đơn kháng cáo. Theo nội dung đơn kháng cáo, ông T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn cung cấp giấy nộp tiền ngày 19/5/2022 tại Ngân hàng Q – Phòng giao dich T. Ông Hữu N1 trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà H trả cho nguyên đơn số tiền 880.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất.

Đại diện bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức kháng cáo: Xét thấy nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện vào ngày 26/5/2022 giữa bên bà Trần Thị Thúy H có người được bà H ủy quyền là ông Đinh Thế H1 và ông Phan Bảo T đã thỏa thuận ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được công chứng số 3651, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/5/2022 tại Văn phòng C. Theo thỏa thuận hợp đồng, bà H chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất và căn nhà gắn liền với đất tại thửa số 978, diện tích 50m², loại đất ODT và căn nhà trên đất, tọa lạc tại Khu V, phường T, quận T, thành phố C với giá 1.000.000.000 đồng. Sau đó, phía bà H và ông T có thỏa thuận, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên thì bà H sẽ trả lại cho ông T số tiền 1.200.000.000 đồng (gốc 1.000.000.000 đồng và lãi phát sinh do chậm thanh toán là 2.000.000 đồng); trong đó nghĩa vụ của bà H là 880.000.000 đồng, phần của ông Đinh Thế H1 là 320.000.000 đồng và phần ông T với bà H sẽ hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên, ông T trả lại cho bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo biên bản hòa giải thành ngày 31/7/2023.Tuy nhiên, sau đó phía bà H thay đổi ý kiến, nên Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nhưng không đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung mà tiếp tục ra thông báo thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2023 là vi phạm thủ tục tố tụng, cần rút kinh nghiệm chung đối với Tòa án cấp sơ thẩm.

Trong quá, trình giải quyết vụ án phía bà H cho rằng không biết số tiền trên và không biết việc ủy quyền cho ông H1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không phù hợp với thực tế khách quan. Bởi lẽ, căn cứ theo hợp đồng ủy quyền ngày 20/5/2022 giữa bà H và ông H1 thể hiện ông H1 có toàn quyền chuyển nhượng, tặng cho...như vậy bà H phải chịu trách nhiệm đối với các giao dịch mà ông H1 thực hiện. Hơn nữa, giữa ông H1, bà H và ông T đã thỏa thuận, thống nhất với nhau về số nợ mà các bên đã nhận. Tại phiên tòa phía đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà H trả lại số tiền mà ông H1 đã tất toán số nợ cho bà H tại Ngân hàng Q là 495.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ khởi kiện ông H1 thành vụ kiện khác là có căn cứ chấp nhận.

Đối với việc bản án sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn bà H.Xét thấy căn cứ theo Công Văn số 65 ngày 18/02/2025 của Chi nhánh văn phòng đất đai quận T xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T đang giữ đã bị hủy bỏ do bà H xác định là giấy bị mất, nên đã làm thủ tục cấp giấy mới cho bà H, do đó việc buộc ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 30/11/2020 là không cần thiết. Từ những phân tích như trên xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận một phần.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo hướng chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Thạch B, buộc bà H có trách nhiệm trả cho ông T số tiền là 549.000.000 đồng.

Phần án phí và chi phí thẩm định: Các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa xác định, nguyên đơn ông T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 880.000.000 đồng theo biên bản hòa giải thành ngày 31/7/2023, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.
  2. [2] Nhận thấy, căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/05/2022 cho thấy bà Trần Thị Thúy H (bên chuyển nhượng) có đại diện ủy quyền là ông Đinh Thế H1 có chuyển nhượng cho ông Phan Bảo T quyền sử dụng đất tại thửa số 978 – tờ bản đồ số 4, diện tích 50 m², loại đất ODT, tọa lạc tại Khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, với giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Theo thừa nhận của ông H1 và chứng cứ là các bản sao kê ông T cung cấp có cơ sở xác định ông T đã giao đủ số tiền 1.000.000.000 đồng cho bên bán do ông H1 đại diện nhận. Đồng thời, ông H1 cũng đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch giữ. Bà H cho rằng bà không biết ông Đinh Thế H1 ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Phan Bảo T đối với thửa đất số 978 với giá 1.000.000.000 đồng và bà cũng không có nhận số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) nên không có trách nhiệm trả. Tuy nhiên, theo hợp đồng chuyển nhượng bên bán là bà H, ông T là người mua nên quyền và nghĩa vụ thực hiện hợp đồng là thuộc về ông T và bà H. Ông H1 ký hợp đồng chuyển nhượng với ông T là nhân danh bà H thông qua hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa bà H với ông H1 ngày 20/5/2022. Cụ thể, tại Điều 1 của Hợp đồng về phạm vi ủy quyền bà H với ông H1 thỏa thuận: “ông H1 được quyền thay mặt bà H thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến quyền sử dụng thửa đất tọa lạc tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 709893 cấp ngày 30/11/2020, trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận tiền chuyển nhượng”. Như vậy, ông H1 nhận ủy quyền của bà H thì trách nhiệm thông báo khi ký hợp đồng chuyển nhượng và nhận tiền chuyển nhượng là trách nhiệm giữa ông H1 với bà H, ông T không buộc phải biết nghĩa vụ này. Mặt khác, căn cứ vào bản chi tiết giao dịch tài khoản khách hàng Ngân hàng thương mại cổ phần S thì vào các ngày 17/05/2022 và 18/05/2022 ông T có chuyển tiền cho ông H1 03 lần với tổng số tiền 555.000.000 đồng, căn cứ vào giấy nộp tiền ngày 19/5/2022 của Ngân hàng Q thể hiện ông H1 có nộp tiền vào tài khỏan của bà Hằng số tiền 495.000.000 đồng với nội dung chuyển là “nộp tiền tất nợ”. Sau khi ông H1 nộp tiền tất nợ vào Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra thì ngày 20/5/2022 bà H đã lập hợp đồng ủy quyền cho ông H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đồng thời cũng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 giữ, đến ngày 26/5/2022 ông H1 ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T. Như vậy, bà H cho rằng không biết ông H1 đã chuyển nhượng đất và không có nhận tiền chuyển nhượng là có sự gian dối trong lời khai nhằm trốn tránh trách nhiệm;
  3. [3] Ngày 23/11/2022 bà H với ông T thống nhất ký hợp đồng chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, khi hợp đồng chuyển nhượng chấm dứt thì bà H có trách nhiệm hoàn lại số tiền mà ông T đã giao. Bà H cho rằng theo nội dung của Hợp đồng này thì quyền và nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong. Tuy nhiên, thực tế ông T vẫn còn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H và bà cũng không có ý kiến gì cũng không yêu cầu ông T trả lại giấy. Do đó, lời trình bày của ông T cho rằng do bà H chưa thanh toán tiền cho ông nên ông chưa giao trả giấy cho bà H là có cơ sở.
  4. [4] Từ những phân tích trên, cho thấy có cơ sở xác định bà H có nhận của ông H1 số tiền 495.000.000 đồng từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên bà H có trách nhiệm trả lại số tiền này khi chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng đất. Bà H chưa chứng minh được bà đã trả cho nguyên đơn số tiền này nên nguyên đơn yêu cầu bà trả lại là có cơ sở, phía nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. [5] Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CS07293 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 30/11/2020 đã bị hủy theo Quyết định số 10/QĐ – CNVPĐKĐĐ ngày 18/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, đồng thời bà H đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đã không còn giá trị pháp lý nên việc buộc ông T giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không cần thiết.
  6. [6] Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bà H trình bày bà đã làm cớ mất để làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới và đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nên Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa để tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ. Tại công văn số 65/CNVPĐKĐĐ ngày 18/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T có nội dung: “Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai có nhận thông báo số 11/TB-UBND đứng tên chủ sử dụng ngày 14/6/2023 về việc thông báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 709893, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS07293 cho bà Trần Thị Thúy H. Ngày 18/8/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T có Quyết định số 10/QĐ - CNVPĐKĐĐ về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DK584954, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CN09034 do bà Trần Thị Thúy H đứng tên chủ sử dụng”. Như vậy, bản thân bà H biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc của bà do ông Thạch G nhưng đã làm cớ mất để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới để chuyển nhượng cho người khác. Hành vi của bà H là có sự gian dối về điều kiện cấp lại giấy mới và nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho ông T. Do đó, kiến nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xem xét xử lý đối với hành vi gian dối của bà H trong quá trình lập thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 18/8/2023 số phát hành DK584954.
  7. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ và phù hợp với nhận địnnh của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  8. [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Pahn Bảo T2 không phải chịu do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn– ông Phan Bảo T.
  2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Bảo T.

      Buộc bà Trần Thị Thúy H có trách nhiệm trả lại cho ông Phan Bảo T số tiền 495.000.000 đồng (bốn trăm chín mươi năm triệu đồng).

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Ông Phan Bảo T có quyền khởi kiện ông Đinh Thế H1 trả số tiền còn lại trong tổng số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) mà ông H1 đã nhận thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
    3. Kiến nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất xem xét xử lý đối với hành vi gian dối của bà H trong quá trình lập thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 18/8/2023 số phát hành DK584954.
  3. Về án phí dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thúy H phải chịu là 23.800.000 đồng án phí (hai mươi ba triệu tám tram ngàn đồng). Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phan Bảo T không phải chịu theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi Cục THADS quận Thốt Nốt ;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 111/2025/DSPT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số quyết định: 111/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch - Hằng - T/c đòi lại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger