|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Quyết định giám đốc thẩm Số: 111/2025/DS-GĐT Ngày: 30/05/2025 V/v: “Đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;
Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;
ông Võ Văn Khoa.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Mai Phương, Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trí Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Đòi tài sản” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1/Ông Ngô Quý L, sinh năm 1975;
- 1.2/Bà Phan Thị N, sinh năm 1983;
- Cùng địa chỉ: ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Bà Thái Thị Ánh V, sinh năm 1958;
- Địa chỉ: 177–179 Tô Hiến Thành, khóm 8, phường 5,
- thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1/Ông Hồng Quốc Quang S, sinh năm 1989;
- 3.2/Ông Hồng Quốc C, sinh năm 1960;
- Cùng địa chỉ: 177–179 Tô Hiến Thành, khóm 8, phường 5,
- thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- 3.3/Ngân hàng Nông nghiệp V1;
- Địa chỉ: E A, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Ngô Quý L, bà Phan Thị N trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Vì đã có mối quan hệ làm ăn chung với nhau, ngày 06/02/2018, ông L-bà N ký hợp đồng thế chấp tài sản, bảo đảm cho bà Thái Thị Ánh V (bà V) vay số tiền 800.000.000 đồng của Ngân hàng V1-Chi nhánh C2 (sau đây gọi là Ngân hàng);
Những tài sản thế chấp gồm có:
- Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 70, diện tích 108m² tọa lạc tại xã L (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 416990 vào ngày 17/06/2014 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp; cấp đổi vào ngày 25/01/2018);
- Thửa đất số 130, tờ bản đồ số 70, diện tích 108m² tọa lạc tại xã L (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 416989 ngày 17/06/2014 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp; cấp đổi vào ngày 25/01/2018);
- Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 70, diện tích 108m² tọa lạc tại xã L (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 416988 ngày 17/06/2014 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp; cấp đổi vào ngày 25/01/2018);
- Thửa đất số 132, tờ bản đồ số 70, diện tích 108m² tọa lạc tại xã L, (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 416985 ngày 17/06/2014 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp; cấp đổi vào ngày 25/01/2018).
Khi thực hiện hợp đồng vay tiền, bà V là người trực tiếp ký tên tại hợp đồng tín dụng và tại giấy nhận nợ; trực tiếp nhận tiền khi Ngân hàng giải ngân vào ngày 09/02/2018.
Vì ông L-bà N cần lấy ra những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đã thế chấp) để làm thủ tục chuyển nhượng đất cho người khác, nên vào ngày 16/05/2018, ông L-bà N đã trả tiền (vốn và lãi) cho Ngân hàng, là 603.899.301 đồng, để nhận lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ), gồm có: giấy CNQSDĐ số BU 416985, số BU 416989; số BU 416990. Riêng đối với khoản vay 200.000.000 đồng, do bà V không trả tiền cho Ngân hàng, nên ông L-bà N tiếp tục trả số tiền còn lại là 200.762.740 đồng để lấy lại giấy CNQSDĐ số BU 416988.
Như vậy, tổng cộng ông L-bà N đã thay bà V, trả cho Ngân hàng số tiền là 804.662.041 đồng.
Vì vậy, vợ-chồng ông L-bà N đòi bà V phải trả lại tổng cộng là 994.102.041 đồng, bao gồm những khoản sau:
- Khoản tiền mà ông L-bà N đã thay bà V, trả cho Ngân hàng, là 804.662.041 đồng;
- Trả tiền lãi chậm trả lại, tính từ tháng 05/2018 đến tháng 10/2020, như sau: (603.899.301 đồng x 10%/năm x 29 tháng) = 145.942.000 đồng; trả tiền lãi chậm trả lại, tính từ tháng 08/2018 đến tháng 10/2020 (200.762.740₫ x 10%/năm x 26 tháng) = 43.498.000 đồng.
Ngoài ra, ông L có yêu cầu bổ sung, đòi bà V trả số tiền lãi chậm trả, tính từ ngày 16/05/2018 đến ngày 20/05/2021 với lãi suất 10%/năm đối với khoản tiền 603.899.301 đồng, là 205.325.767 đồng; trả tiền lãi chậm trả, tính từ ngày 29/08/2018 đến ngày 20/05/2021 với lãi suất 10%/năm đối với khoản tiền 200.762.740 đồng, là 62.236.437 đồng.
Do vậy, ông L-bà N đòi bà V trả lại tổng cộng là 1.072.223.245 đồng (tiền gốc là 804.662.041 đồng, tiền lãi là 267.562.204 đồng).
Bị đơn là bà Thái Thị Ánh V trình bày ý kiến như sau:
Hai bên đương sự có mối quan hệ như sau: vợ-chồng ông L-bà N gọi vợ-chồng ông Hồng Quốc C (ông C)-bà V bằng cậu-mợ. Kể từ năm 2006, bà V- ông C đã nhiều lần hợp tác làm ăn với ông L-bà N.
Vào đầu năm 2018, ông C giới thiệu cho ông L-bà N mua 04 thửa đất của người khác, thỏa thuận khi bán lại sẽ chia lợi nhuận. Sau đó, ông L mua được 04 thửa đất với giá 1.425.600.000 đồng, nhưng không đủ tiền trả nên nhờ ông Công thương L1 với chủ đất cho trả trước một phần; phần tiền còn lại, khi nào làm xong giấy CNQSDĐ, sẽ đi vay ngân hàng để trả tiếp.
Đến ngày 25/01/2018, ông L được cấp 04 giấy CNQSDĐ. Sau đó, ông L nhờ bà V đứng tên vay tiền của Ngân hàng V1-chi nhánh C2 và hai bên thỏa thuận như sau: bà V đứng tên vay 800.000.000 đồng giúp cho ông L; ông L thế chấp 04 giấy CNQSDĐ cho Ngân hàng.
Vào ngày 06/02/2018, Ngân hàng và ông L-bà N đã ký hợp đồng, thế chấp 04 thửa đất nói trên để cho bà V vay số tiền 800.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền từ Ngân hàng, bà V đã giao lại cho ông L tại quầy giao dịch của Ngân hàng để ông L trả số tiền còn nợ (khi mua 04 thửa đất nói trên).
Đến tháng 05/2018, ông L tìm được người mua lại 03 thửa đất nên đã nhờ bà V làm thủ tục giải chấp (03 thửa đất) vào ngày 16/05/2018. Cùng trong ngày 16/05/2018, ông L trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc là 600.000.000 đồng cùng tiền lãi. Đến 08/2018, ông L tìm được người mua 01 thửa đất còn lại, nhờ bà V làm thủ tục giải chấp vào ngày 29/08/2018. Cùng trong ngày 29/08/2018, ông L đã trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc 200.000.000 đồng cùng tiền lãi.
Ngoài ra, giữa bà V và ông C còn hợp tác mua-bán đất với ông L nhưng ông L chưa trả tiền. Vào ngày 16/03/2019, ông L có gửi thư, từ địa chỉ email mang tên “ngoquylinh.hue@gmail.com” đến địa chỉ email “hquangsang@gmail.com" của ông Hồng Quốc Quang S (là con của bà V-ông C), thư có nội dung như sau: “bảng chi tiết em in ra cho mợ xem”.
Trong nội dung email mà ông L gửi, có thể hiện số tiền bán 04 lô đất và số tiền 800.000.000 đồng mà bà V đã vay ngân hàng, chuyển cho ông L trả tiền mua đất. Sau khi trừ chi phí mua-bán 04 miếng đất và tiền vay ngân hàng 800.000.000 đồng, thì lợi nhuận còn lại là 124.400.000 đồng; ông L thỏa thuận chia cho ông C 50.000.000 đồng nhưng đến nay chưa chia. Sau khi xem email, thấy có những khoản bà V-ông C không đồng ý nên đã gọi điện thoại, yêu cầu gặp nhau để đối chiếu nhưng ông L không thực hiện.
Vào ngày 08/08/2019, bà V khởi kiện ông L, đòi trả số tiền ông L mua đất còn thiếu là 600.000.000 đồng; Tòa án đã giải quyết bằng bản án sơ thẩm số 81/2020/DS-ST ngày 02/07/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và bản án phúc thẩm số 197/2020/DS-PT ngày 15/09/2020.
Vì vậy, bà V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L-bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồng Quốc Công trình B ý kiến như sau: đồng ý với ý kiến của bà V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồng Quốc Quang S trình bày ý kiến như sau:
Đầu năm 2018, bà V (là mẹ của ông S) có kể về chuyện ông L-bà N nhờ vay số tiền 800.000.000 đồng tại Ngân hàng V1-chi nhánh C2, để trả nợ tiền mua 04 phần đất. Khi đó, ông L có thế chấp 04 giấy CNQSDĐ tại Ngân hàng để bảo đảm số tiền vay. Sau khi được giải ngân, bà V đã giao lại toàn bộ số tiền nói trên cho ông L. Ngoài ra, ông L nợ bà V khoản tiền trong việc hợp tác mua-bán đất. Tuy nhiên, những sự việc này, ông S chỉ nghe bà V nói lại.
Đến ngày 16/03/2019, ông L có gửi email, nhờ ông S in ra, đưa cho bà V xem (về số tiền bán 04 phần đất và tiền bà V vay ngân hàng 800.000.000 đồng). Sau khi xem, bà V thấy có nhiều khoản không phù hợp nên yêu cầu gặp trực tiếp để đối chứng, nhưng ông L không đến. Vì vậy, vào ngày 08/08/2019, bà V khởi kiện ông L, đòi số tiền mua đất 600.000.000 đồng; sự việc đã được Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau giải quyết xong.
Ông S không đồng ý với yêu cầu của ông L-bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng V1 trình bày ý kiến như sau:
Tài sản mà ông L và bà Nhân thế C1 cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 15-2018 HĐTC-NLQ ngày 06/02/2018 và hợp đồng số 13-2018/PLHHĐ-TTAV ngày 15/05/2018 để bảo đảm cho bà V vay vốn, đã được Ngân hàng giải chấp vào ngày 29/08/2018 và xóa đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Ngân hàng từ chối tham gia tố tụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 104/2021/DS-ST ngày 21/05/2021, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử như sau (nội dung chính):
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông L-bà N;
- Buộc bà V thanh toán cho ông L và bà N số tiền 804.662.041 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông L-bà N đòi trả số tiền lãi 189.440.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/05/2021, bà V có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông L-bà N.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 104/2022/DS-PT ngày 11/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử như sau (nội dung chính):
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V;
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L-bà N đòi bà V trả số tiền 804.662.041 đồng và trả số tiền lãi 189.440.000đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quý L và bà Phan Thị N về việc buộc bà Thái Thị Ánh V trả số tiền lãi 189.440.000đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Vào ngày 06/06/2022, ông L-bà N nộp đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm thủ tục giám đốc thẩm.
Tại quyết định số 27/2025/KN-DS ngày 28/04/2025, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án phúc thẩm số 104/2022/DS-PT ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; yêu cầu Tòa án hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 104/2021/DS-ST ngày 21/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau;
Lý do như sau:
- Tài liệu, chứng cứ của vụ án thể hiện rằng bà V là người vay tiền và ký nhận nợ với Ngân hàng, nên phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng; ông L-bà N chỉ là người ký kết hợp đồng thế chấp tài sản, bảo đảm cho số tiền mà bà V vay Ngân hàng. Sau đó, chính ông L-bà N là người đã thay bà V, trả nợ Ngân hàng nên bà V phải có nghĩa vụ trả lại số tiền đó cho ông L-bà N;
- Sự việc ông L gửi email (thông qua hộp thư của ông S, là người con của bà V), đưa bảng kê chi tiết đối chiếu những khoản tiền hợp tác làm ăn giữa ông L-bà N với ông C-bà V theo đó sau khi đối trừ công nợ thì ông L-bà N còn nợ bà V số tiền 728.450.000 đồng (trong đó nợ tiền gốc 600.000.000đồng, nợ tiền lãi là 128.450.000đồng); Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã buộc ông L-bà N trả cho bà V số tiền này, theo bản án số 197/2020/DS-PT ngày 15/09/2020; bản án này không xác nhận sự việc đối trừ số tiền 800.000.000 đồng mà ông L-bà N đã trả cho Ngân hàng thay cho bà V. Vì vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông L-bà N trong vụ án này, là không đúng.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Ngày 24/08/2017, bà V ký kết hợp đồng với Ngân hàng V1-chi nhánh C2 để vay số tiền 800.000.000đồng; khi vay, bà V thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 696110 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 434901 do bà V đứng tên chủ sử dụng.
Cho đến ngày 08/02/2018, bà V ký phụ lục hợp đồng, thay đổi hạn mức tín dụng, vay số tiền là 1.235.000.000 đồng và thế chấp quyền sử dụng đất theo 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số: BU416985, BU 416988, BU 416989; BU 416990 (những giấy này do ông L-bà N đứng tên chủ sử dụng) để bảo đảm số tiền vay 800.000.000 đồng.
[2]Chứng từ giao dịch ngày 08/02/2018; ngày 09/02/2018 của Ngân hàng thể hiện rằng bà Thái Thị Ánh V là người nhận số tiền 800.000.000 đồng. Bảng kê tiền chi ngày 09/02/2018 cũng thể hiện rằng bà V là người ký nhận tiền.
Như vậy, tại Ngân hàng và khi giải ngân (giải ngân làm 03 lần), bà V là người trực tiếp nhận tiền. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà V cho rằng sau khi nhận được tiền, đã giao lại (số tiền 800.000.000 đồng) cho ông L-bà N, nhưng bà V không có bằng chứng để chứng minh sự việc này.
Do đó, bà V phải là người trả nợ cho Ngân hàng; ông L-bà N chỉ là bên thứ ba, thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản tiền mà bà V đã vay.
Một tình tiết khác cũng cần lưu ý, đó là trong suốt quá trình vay tiền tại Ngân hàng, kể từ ngày 09/02/2018 cho đến ngày ông L-bà N tất toán nợ (thay cho bà V), thì bà V chỉ trả khoản tiền lãi của cho khoản vay 800.000.000 đồng mà thôi. Do đó, việc bà V cho rằng đương sự chỉ là người vay tiền Ngân hàng giúp cho ông L-bà N, là không phù hợp với thực tế trả nợ.
[3]Tính cho đến ngày 16/05/2018, phía ông L đã trả vốn và lãi cho Ngân hàng với số tiền là 603.899.301 đồng và được nhận lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số BU 416985; số BU 416990; số BU 416989 cùng ngày 17/06/2014, cấp đổi ngày 25/01/2018).
Cho đến ngày 29/08/2018, phía ông L tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn lại là 200.762.740 đồng để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 416988 ngày 17/06/2014, cấp đổi ngày 25/01/2018; sự việc này cũng được bà V cũng thừa nhận là đúng.
[4]Như vậy, Tòa án xét thấy đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng ông L- bà N là người bảo lãnh cho bà V vay tiền (số tiền 800.000.000 đồng) và chính ông L- bà N đã thay bà V, trả số tiền vay cho Ngân hàng, để giải chấp những tài sản của mình.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, buộc bà V phải trả lại số tiền 804.662.041 đồng cho ông L-bà N, là đúng pháp luật.
Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ email đối chiếu những khoản tiền nợ (do ông L gửi cho ông S-là con của bà V, vào ngày 26/06/2018) để xác định rằng bà V không còn nợ số tiền 800.000.000đồng, là không đúng; lý do như sau:
- Email nói trên, do ông L thiết lập, nhưng không được bà V-ông C xác nhận. Những khoản tiền đối trừ giữa hai bên, xét theo email này, đã được giải quyết theo bản án số 197/2020/DS-PT ngày 15/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, ngoại trừ khoản tiền 800.000.000 đồng mà hai bên đang tranh chấp; bản án đó chỉ ghi nhận việc ông L thừa nhận còn nợ bà V số tiền 600.000.000 đồng;
- Mặt khác, theo tài liệu, chứng cứ của vụ án, thì ông L tất toán nợ với Ngân hàng, ngày cuối cùng là ngày 29/08/2018. Trong khi đó, email đối chiếu nợ, do ông L lập vào ngày 26/06/2018, tức là trước ngày mà khoản tiền nợ 800.000.000 đồng phát sinh, là không hợp lý.
Vì vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, là không phù hợp với những tình tiết, chứng cứ của vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2025/KN-DS ngày 28/04/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 104/2022/DS-PT ngày 11/05/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 104/2021/DS-ST ngày 21/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử vụ án dân sự về việc “Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là ông Ngô Quý L và bà Phan Thị N; bị đơn là bà Thái Thị Ánh V (và những người khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 111/2025/DS-GĐT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi tài sản
- Số quyết định: 111/2025/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2025/KN-DS ngày 28/04/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 104/2022/DS-PT ngày 11/05/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 104/2021/DS-ST ngày 21/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
