Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Tấn Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Trần N, sinh ngày 20/8/1970 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số D đường B, tổ E, phường H, quận C, TP Đà Nẵng: Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Kinh doanh vận tải; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ C và bà Trần Thị V (cả 2 đều còn sống); Có vợ là Trần Thị N1, có 02 con (Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 21/02/1980 tại Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lái xe; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông không rõ, con bà Nguyễn Thị H (còn sống); Có vợ là Trần Thị K, có 03 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Phạm Văn T, sinh ngày 10/6/1982 tại Bình Định; Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định: Nơi đăng ký tạm trú: Buôn Phê, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1 (còn sống) và bà Nguyễn Thị N2 (đã chết); Có vợ là Phạm Thị Mỹ T2, có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Ngô Khắc T3, sinh ngày 11/01/1976 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô L và bà Nguyễn Thị N3 (cả 2 đều đã chết); Có vợ là Trương Thị Thùy L1, có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

5. Đỗ Trần Đình K1, sinh ngày 05/02/1969 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ B, phường C, quận T, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ C và bà Trần Thị V (cả 2 đều còn sống); Có vợ là Nguyễn Thị Kim H (đã ly hôn), có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2000); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 1992 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

6. Đỗ Minh Đ, sinh ngày 06/01/1978 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, quận T, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Đình N4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (còn sống); Có vợ là Võ Thị T4, có 02 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

7. Trần Văn Đ1, sinh ngày 02/11/1972 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp; Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần K2 và bà Nguyễn Thị L2 (cả 2 đều đã chết); Có vợ là Phạm Thị T5, có 01 con sinh năm 1995; Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số 08/QĐ ngày 28/12/2023 của Công an phường H, quận L, TP Đà Nẵng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”, chấp hành xong ngày 04/01/2024.

Nhân thân: Tại Bản án số 22/2008/HSSt ngày 11/3/2008 của Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt và án phí.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Tổ H thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Địa chỉ liên hệ: Tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
  • - Ông Hoàng Văn Y, sinh năm 1982; Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trân N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Buôn Ea Yông A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn T6, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A đường B, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
  • - Ông Huỳnh Ngọc T7, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Thọ D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố số F, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
  • - Ông Trần Mộng T8, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Vắng mặt.
  • - Bà Trần Thị N1, sinh năm 1972; Địa chỉ: D B, tổ E, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Mai C1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, tại G thuộc tổ F, phường H, quận C, TP . do Đỗ Trần N làm giám đốc quản lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, TP. bắt quả tang 03 chiếu đánh bạc trái phép được thua bằng tiền gồm:

  • - Chiếu bạc thứ nhất gồm: Ngô Khắc T3, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1, Nguyễn Văn M là những lái xe của Công ty Q. Sau khi kết thúc chuyến xe xong thì rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức chơi bài “phỏm”. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.350.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trong ví của T3 2.000.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trong túi quần của M 1.500.000 đồng; Thu giữ của Ty 2.038.000 đồng để trước mặt và kiểm tra thu giữ trong ví của Khoa 500.000 đồng.
  • - Chiếu bạc thứ hai gồm: Đỗ Trần N là Giám đốc Công ty Q, sau khi kiểm tra các xe của công ty X1 thì cùng với Nguyễn Thanh B1, Trần Mộng T8 đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức chơi “bầu cua”, Kiểm tra thu giữ trong túi quần của N 14.500.000 đồng và trong túi áo của N 1.000.000 đồng; Kiểm tra trên người của B1 thu giữ trong túi quần bên phải 30.000.000 đồng, trong túi quần bên trái 8.900.000 đồng và 350.000 đồng tiền có số seri đẹp trong ốp lưng điện thoại; Kiểm tra thu giữ của T8 1.600.000 đồng trong túi quần.
  • - Chiếu bạc thứ ba gồm: Huỳnh Ngọc T7, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Văn M1, Hoàng Văn Y, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn T6, Nguyễn Thọ D là các lái xe và phụ xe của Công ty Q, trong lúc chờ xe đi chở khách thì rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức chơi bài “cào tố”. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 140.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trong túi quần của Tín 1.340.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trong túi quần của H2 3.100.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trong ví của H1 1.500.000 đồng; Kiểm tra thu giữ trên người D 220.000 đồng và 210.000 đồng tiền trên chiếu bạc do M1 vứt xuống.

Qua điều tra, truy tố và tại phiên tòa xác định hành vi đánh bạc của 03 chiếu bạc như sau:

Đối với chiếu bạc thứ nhất:

Khoảng 08 giờ ngày 15/4/2024 Ngô Khắc T3 đem theo 1.800.000 đồng, Đỗ Minh Đ đem theo 1.960.000 đồng, Phạm Văn T đem theo 3.038.000 đồng, Nguyễn Văn M đem theo 2.300.000 đồng để đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm. Đến 09 giờ cùng ngày thì Đỗ Minh Đ thua hết, nên nghỉ không tham gia đánh bạc tiếp. Sau khi Đỗ Minh Đ nghỉ thì Đỗ Trần Đình K1 vào thay vị trí của Đỗ Minh Đ và có đem theo 2.290.000 đồng để đánh bạc cùng với T3, T và M. Trong lúc đánh bạc, T3 đi vệ sinh và có nhờ Trần Văn Đ1 đánh bạc giúp cho T3 01 ván bằng tiền của T3. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật trên chiếu bạc thứ nhất như đã nêu trên. Như vậy tổng số tiền Đỗ Minh Đ tham gia đánh bạc là: 9.098.000 đồng, số tiền Ngô Khắc T3, Phạm Văn T9, Nguyễn Văn M, Trần Đình K1 và Trần Văn Đ1 tham gia đánh bạc là: 11.388.000 đồng.

Đối với chiếu bạc thứ hai:

Khoảng 09 giờ ngày 15/4/2024 Đỗ Trần N đem theo trên người 15.500.000 đồng (trong đó có 14.500.000 đồng để ở túi quần là tiền trả nợ mua hàng sửa chữa xe), N chỉ sử dụng 1.000.000 đồng rủ Nguyễn Thanh B1 và Trần Mộng T8 đánh bạc dưới hình thức chơi bầu cua. B1 đem theo trên người 39.250.000 đồng (trong đó có 30.000.000 đồng để trong túi quần bên phải là tiền lương, tiền thu hộ của khách và 8.500.000 đồng trong túi quần bên trái là tiền Công ty cấp sử dụng chi phí chuyến xe trong ngày, trong ốp lưng điện thoại 350.000 đồng tiền có số seri đẹp), B1 chỉ sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc và thua hết. T8 đem theo 1.200.000 đồng để đánh bạc và đánh thắng 400.000 đồng. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật trên chiếu bạc thứ hai như trên. Như vậy, tổng số tiền Đỗ Trần N, Nguyễn Thanh B1 và Trần Mộng T8 tham gia đánh bạc là: 2.600.000 đồng.

Đối với chiếu bạc thứ ba:

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 15/4/2024 Nguyễn Văn M1 đem theo 370.000 đồng rủ đánh bạc dưới hình thức chơi cào tố; Nguyễn Xuân H2 đem theo 2.300.000 đồng, trong đó để trong túi quần 2.100.00 đồng tiền thu hộ tiền bán gà của chị Nguyễn Thị Mai C1 (sinh năm 1991; trú: tổ C, phường H, quận C) và lấy ra 200.000 đồng để đánh bạc, Huỳnh Ngọc T7 đem theo 1.500.000 đồng, trong đó để trong túi quần 500.000 đồng tiền lệ phí đường bộ chạy xe trong ngày công ty đưa và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc; Hoàng Văn Y đem theo 100.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Tấn H1 đem theo 1.600.000 đồng; Nguyễn T6 đem theo 120.000 đồng; Nguyễn Thọ D đem theo 500.000 đồng tham gia đánh bạc cùng M1, H2, T7, Y. Mọng đánh bạc thua 140.000 đồng, H2 đánh bạc thắng 800.000 đồng, T7 đánh bạc thua 140.000 đồng, Y đánh bạc thua 80.000 đồng, H1 đánh bạc thua 80.000 đồng, T6 đánh bạc thua 100.000 đồng, D đánh bạc thua 260.000 đồng. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật trên chiếu bạc thứ ba như đã nêu trên. Như vậy tổng

số tiền Huỳnh Ngọc T7, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Văn M1, Hoàng Văn Y, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn T6, Nguyễn Thọ D tham gia đánh bạc là: 3.910.000 đồng.

Tang vật thu giữ:

  • - 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn màu xanh lá, 01 thau nhôm, 02 đĩa nhôm, 06 cục xúc xắc, 05 tờ giấy in hình bầu - cua - tôm - cá - gà - nai, 01 hộp xúc xắc.
  • - Số tiền 17.898.000 đồng trong đó gồm: 5.350.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc đánh “phỏm" (chiếu bạc thứ nhất); 2.000.000 đồng của T3; 1.500.000 đồng của M; 500.000 đồng của K1; 2.038.000 đồng của T, 350.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc đánh “cào tố”; 840.000 đồng của T7; 1.000.000 đồng của H2; 1.500.000 đồng của H1; 220.000 đồng của D; 1.000.000 đồng của N; 1.600.000 đồng của T8 (Tiền thu của N, T8 là tiền đánh bạc ở chiếu bạc số 2) .
  • - Số tiền 41.450.000 đồng thu giữ của Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Thanh B1, Huỳnh Ngọc T7, trong đó gồm: 2.100.000 đồng của H2; 38.850.000 đồng của B1; 500.000 đồng của T7.
  • - Số tiền 14.500.000 đồng thu giữ của Đỗ Trần N.

Tại Bản cáo trạng số 97/CT-VKSCL ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố:

Bị cáo Đỗ Trần N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1, Đỗ Minh Đ, Trần Văn Đ1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa cả 07 bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Đỗ Trần N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1, Đỗ Minh Đ, Trần Văn Đ1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự là đúng tội, không oan. Các bị cáo đã thấy sai trái, rất ăn năn hối cải, xin được áp dụng hình phạt tiền để các bị cáo có điều kiện tiếp tục lao động, chăm sóc gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Trần N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1, Đỗ Minh Đ, Trần Văn Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Trần N mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Khắc T3 mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Trần Đình K1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Minh Đ mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn M mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Đ1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù giam, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn màu xanh lá, 01 thau nhôm, 02 đĩa nhôm, 06 cục xúc xắc, 05 tờ giấy in hình bầu cua tôm - cá - gà - nai, 01 hộp xúc xắc là công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với số tiền 17.898.000 đồng trong đó gồm: 5.350.000 đồng thu giữ trên chiểu bạc đánh “phỏm" (chiếu bạc thứ nhất); 2.000.000 đồng của T3; 1.500.000 đồng của M; 500.000 đồng của K1; 2.038.000 đồng của T, 350.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc đánh “cào tố”; 840.000 đồng của T7; 1.000.000 đồng của H2; 1.500.000 đồng của H1; 220.000 đồng của D; 1.000.000 đồng của N; 1.600.000 đồng của T8, đây là tiền sử dụng vào đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung công.
  • - Đối với số tiền 41.450.000 đồng thu giữ của Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Thanh B1, Huỳnh Ngọc T7, trong đó gồm: 2.100.000 đồng của H2, 38.850.000 đồng của B1, 500.000 đồng của T7, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
  • - Đối với số tiền 14.500.000 đồng là tài sản của Đỗ Trần N, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí, các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã tiến hành đều hợp pháp.

[2] Về xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Trần N, Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1, Đỗ Minh Đ, Trần Văn Đ1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, các vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

Từ khoảng 08 giờ đến 09 giờ 30 phút ngày 15/4/2024, Đỗ Trần N sử dụng địa điểm do mình quản lý tại G, tổ F, phường H, quận C, TP Đà Nẵng cho 03 chiếu bạc gồm 16 người tham gia đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.898.000 đồng, trong đó:

Chiếu bạc thứ nhất gồm: Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1, Trần Văn Đ1 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Phỏm” với tổng số tiền sử dụng để đánh là 11.388.000 đồng. Trong đó, xác định số tiền Đỗ Minh Đ đánh bạc là 9.098.000 đồng; Số tiền mà Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1 tham gia đánh bạc là 11.388.000 đồng; Bị cáo Trần Văn Đ1 tham gia đánh bạc với vài trò đồng phạm giúp sức cho Ngô Khắc T3 nên phải chịu trách nhiệm với số tiền mà T3 tham gia đánh bạc là 11.388.000 đồng.

Chiếu bạc thứ 2 gồm: Đỗ Trần N, Nguyễn Thanh B1, Trần Mộng T8 đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Bầu cua” với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.600.000 đồng.

Chiếu bạc thứ 3 gồm: Huỳnh Ngọc T7, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Văn M1, Hoàng Văn Y, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn T10, Nguyễn Thọ D chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Cào tố” với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là: 3.910.000.000 đồng.

Hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý cho 03 chiếu bạc gồm 16 người tham gia đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.898.000 đồng nêu trên của bị cáo Đỗ Trần N đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “phỏm”, trong đó xác định số tiền Đỗ Minh Đ đánh bạc là 9.098.000 đồng; Số tiền mà Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1 tham gia đánh bạc là 11.388.000 đồng; Bị cáo Trần Văn Đ1 tham gia đánh bạc với vài trò đồng phạm giúp sức cho Ngô Khắc T3 nên phải chịu trách nhiệm với số tiền mà T3 tham gia đánh bạc là 11.388.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1, Trần Văn Đ1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án thì thấy:

Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, trong đó bị cáo Đỗ Trần N phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù đến 05 năm tù là loại tội phạm nghiêm trọng. Các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1, Trần Văn Đ1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, làm gia tăng nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, đối với các bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo Đỗ Trần N đã có hành vi sử dụng điểm địa do mình quản lý cho 03 chiếu bạc gồm 16 người tham gia đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 17.898.000 đồng, bản thân bị cáo N cũng trực tiếp tham gia đánh bạc tại chiếu bạc số 2 với số tiền đánh bạc là: 2.600.000 đồng.

Các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Trần Đình K1 đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh là 11.388.000 đồng. Bị cáo Đỗ Minh Đ tham gia đánh bạc với số tiền là 9.098.000 đồng; Bị cáo Trần Văn Đ1 tham gia đánh bạc với vài trò đồng phạm giúp sức cho Ngô Khắc T3 nên phải chịu trách nhiệm đối với số tiền T3 đánh bạc là 11.388.000 đồng. Trong đó số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc như sau: Phạm Văn T 3.038.000 đồng; Đỗ Trần Đình K1 2.290.000 đồng; Nguyễn Văn M 2.300.000 đồng; Đỗ Minh Đ 1.960.000 đồng; Ngô Khắc T3 1.800.000 đồng, Trần Văn Đ1 không mang theo tiền để đánh bạc nhưng giúp sức cho T3 đánh bạc.

Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Trần Đình K1 và bị cáo Trần Văn Đ1 có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 1992 bị Đỗ Trần Đình K1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Năm 2008 bị cáo Trần Văn Đ1 đã bị Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Ngày 28/12/2023 Trần Văn Đ1 bị Công an phường H, quận L, TP Đà Nẵng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra truy tố và tại phiên tòa tất cả các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Các bị cáo Ngô Khắc T3, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Đỗ Minh Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo N, K1, Minh Đ có ông nội Đỗ D1, cô ruột Đỗ Thị X; Bị cáo Phạm Văn T có cha ruột Phạm Văn T1; bị cáo Nguyễn Văn M có cậu ruột Nguyễn Đức H3 có công với cách mạng; Các bị cáo Đỗ Trần N, Ngô Khắc T3 có nhiều đóng góp cho địa phương trong quá trình phòng chống dịch bệnh Covid - 19 được chính quyền địa phương xác nhận; Bị cáo Trần Văn Đ1 tham gia với vai trò đồng phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo T3, M, T, Minh Đ; áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N, K1; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Trần Văn Đ1, để xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về quyết định hình phạt: Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc, tổ chức đánh bạc không lớn, các bị cáo T3, M, T, Minh Đ, N có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo K1 mặc dù năm 1992 đã bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng đây là lỗi vô ý và từ đó đến nay bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháo luật. Do đó, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết cách ly các bị cáo N, T3, M, T, K1, Minh Đ ra ngoài xã hội mà cho bị cáo N được hưởng án treo; các bị cáo T3, M, T, K1, Minh Đ cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo về chính quyền địa phương giám sát giáo dục, đồng thời áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo cũng là phù hợp, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Do đã áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo T3, M, T, K1, Minh Đ, mặt khác các bị cáo có con nhỏ, đang tuổi ăn học. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn khấu trừng một phần thu nhập của các bị cáo trong quá trình chấp hành án cải tạo không giam giữ. Riêng đối với Trần Văn Đ1, do bị cáo có nhân thân xấu năm 2008 đã bị xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tháng 12/2023 bị Công an phường H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nay tiếp tục giúp sức cho T3 đánh bạc, điều này thể hiện bị cáo coi thương pháp luật, việc xử phạt tiền, hoặc cải tạo tại địa phương chưa đủ răn đe đối với bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như mức án mà Viện kiểm sát đã đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án này, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo M, T, T3, K1, Minh Đ tương đương nhau và cũng có các tình tiết giảm nhẹ tương tự. Trong khi đó Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính cải tạo không giam giữ đối với bị cáo M, T; Đề nghị xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo T3, K1, Minh Đ là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn màu xanh lá, 01 thau nhôm, 02 đĩa nhôm, 06 cục xúc xắc, 05 tờ giấy in hình bầu - cua - tôm - cá - gà - nai, 01 hộp xúc xắc là công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với số tiền 17.898.000 đồng, trong đó gồm: 5.350.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc đánh “phỏm" (chiếu bạc thứ nhất); 2.000.000 đồng của T3; 1.500.000 đồng của M; 500.000 đồng của K1; 2.038.000 đồng của T, 350.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc đánh “cào tố” (chiếu bạc thứ 3); 840.000 đồng của T7; 1.000.000 đồng của H2; 1.500.000 đồng của H1; 220.000 đồng của D; 1.000.000 đồng của N; 1.600.000 đồng của T8 (Tiền thu của N, T8 là tiền đánh bạc ở chiếu bạc số 2). Đây là tiền sử dụng vào đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 41.450.000 đồng thu giữa của Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Thanh B1, Huỳnh Ngọc T7, trong đó gồm: 2.100.000 đồng của H2; 38.850.000 đồng của B1; 500.000 đồng của T7, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
  • - Đối với số tiền 14.500.000 đồng là tài sản của Đỗ Trần N, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Đối với Huỳnh Ngọc T7, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Văn M1, Hoàng Văn Y, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn T6, Nguyễn Thọ D, Đỗ Trần N, Nguyễn Thanh B1, Trần Mộng T8 có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Công an quận C đã xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Đỗ Trần N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Ngô Khắc T3, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1, Trần Văn Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đỗ Trần N 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 10/12/2024.

Giao bị cáo Đỗ Trần N về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, TP Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đỗ Trần N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Trần N: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

1.2 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn M 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M về Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn M: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập của Nguyễn Văn M trong thời gian chấp hành án.

1.3 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phạm Văn T về Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập của Phạm Văn T trong thời gian chấp hành án.

1.4 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Ngô Khắc T3 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Ngô Khắc T3 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Ngô Khắc T3: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập của Ngô Khắc T3 trong thời gian chấp hành án.

1.5 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đỗ Trần Đình K1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đỗ Trần Đình K1 về Ủy ban nhân dân phường C, quận T, TP Đà Nẵng giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung Đỗ Trần Đình K1: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập của Đỗ Trần Đình K1 trong thời gian chấp hành án.

1.6 Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đỗ Minh Đ 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đỗ Minh Đ về Ủy ban nhân dân phường H, quận T, TP Đà Nẵng giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung Đỗ Minh Đ: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập của Đỗ Minh Đ trong thời gian chấp hành án.

1.7 Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Văn Đ1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tuyên.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn màu xanh lá, 01 thau nhôm, 02 đĩa nhôm, 06 cục xúc xắc, 05 tờ giấy in hình bầu cua tôm - cá - gà - nai, 01 hộp xúc xắc.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 17.898.000 đồng (Mười bảy triệu, tám trăm chín mươi tám nghìn đồng).
  • - Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Đỗ Trần N.

(Các vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ đang quản lý theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/11/2024; Số tiền 32.398.000 đồng của 02 khoản nêu trên được nộp vào tài khoản số 3949.0.1036411.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ mở tại Kho bạc Nhà nước quận C, theo giấy nộp tiền ngày 22/11/2024)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đỗ Trần N, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T, Ngô Khắc T3, Đỗ Minh Đ, Đỗ Trần Đình K1, Trần Văn Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CQDĐ -Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS – Công an Q, Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 110/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số quyết định: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trần N cùng các bị cáo khác phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger