TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 02 - 2025 V/v “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Huy Tưởng, ông Nguyễn Tiến Ngọc.
Thư ký Toà án ghi Kiên bản phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị V, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm D, thôn Y, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
+ Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2024 và trong quá trình xét xử, chị Đỗ Thị V vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trình bày:
Chị V kết hôn với anh K vào ngày 29/02/2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện V (nay là UBND phường Nếnh, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh K ngay tại địa chỉ tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K mải chơi không không tu chí làm ăn. Đến tháng 8 năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng. Chị cùng với hai con chung bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở tại xóm D, thôn Y, xã V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ly thân với anh K từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh K.
1
Về con chung: chị V và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/4/2013 và cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 31/5/2017. Chị V đề nghị được nuôi 02 con chung. Chị V có nghề nghiệp đi làm Công ty có thu nhập khoảng 17.000.000đ/tháng đảm bảo cho việc nuôi 2 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V và anh K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Chị V và anh K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Nguyễn Trung K vắng mặt tại phiên toà. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tống đạt cho anh K các văn bản tố tụng bằng hình thức niêm yết công khai nhưng anh K vẫn không có ý kiến gửi cho Toà án.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh với bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của anh K cho biết như sau:
Chị V và anh K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND thị trấn N, huyện V (nay là UBND phường Nếnh, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị V về làm dâu nhà bà ngay. Việc mâu thuẩn vợ chồng bà không rõ nhưng khoảng năm 2019, anh K đi làm ăn xa thì chị V cùng với hai con chung đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xóm D, thôn Y, xã V, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Về con chung, anh K và chị V có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý và cháu Nguyễn Quốc C. Nay chị V đề nghị ly hôn anh K, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Đỗ Thị V được ly hôn anh Nguyễn Trung K
- Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/4/2013 và cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 31/5/2017.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V và anh K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
2
Về tài sản chung, công nợ: Chị V và anh K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cú khác do Toà án thu thập. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa chị V vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt; anh K vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị V và anh Nguyễn Trung K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện V (nay là UBND phường Nếnh, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, không bị ép buộc nên hôn nhân giữa chị V và anh K là hợp pháp. Quá trình kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn (anh K mải chơi không tu trí làm ăn). Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị ly hôn với anh K. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh, chị đã trở nên trầm trọng cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V được ly hôn anh K.
[3] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/4/2013 và cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 31/5/2017. Chị V đề nghị được nuôi 02 con chung. 02 con chung đang ở với chị V và các cháu đều có nguyện vọng được chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K bỏ đi không có trách nhiệm với con chung. Chị vân có thu nhập đảm bảo cho việc nuôi 02 con chung. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung, cần giao 02 con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: Chị V và anh K tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
3
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị V và anh Nguyễn Trung K.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 10/4/2013 và cháu Nguyễn Quốc C, sinh ngày 31/5/2017 cho chị Đỗ Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Đỗ Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001441 ngày 24/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Xác nhận chị V đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: chị Đỗ Thị V và anh Nguyễn Trung K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc niêm yết bản án).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Trường |
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Giáp Huy Tưởng Nguyễn Tiến N | Nguyễn Văn T |
5
6
7
8
9
Quyết định số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số quyết định: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
