Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 106/2024/DS-GĐT

Ngày: 06/05/2024

V/v: “Tranh chấp thừa kế tài sản và hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;

Các Thẩm phán:ông Hoàng Thanh Dũng;

ông Võ Văn Khoa.

Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965;

    Địa chỉ: 1 đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện của bà Nguyễn Thị L (văn bản ủy quyền ngày 16/10/2017):

    Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1987;

    Địa chỉ: 15/7 khu vực 2, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn:

    Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967;

    Địa chỉ: 9/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1/Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1953;

    Địa chỉ: 12/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    3.2/Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1955;

    Địa chỉ: tổ G, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    3.3/Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1956;

    Địa chỉ: 10/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    3.4/Ông Nguyễn Ngọc S1, sinh năm 1958;

    Địa chỉ: 11/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    3.5/Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1963;

    Địa chỉ: 9A/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    3.6/Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969;

    Địa chỉ: 9/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện của ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị C (văn bản ủy quyền ngày 16/10/2017):

    Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1987;

    Địa chỉ: 15/7 khu vực 2, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

    3.7/Bà Trần Thị P, sinh năm 1973;

    Địa chỉ: 9/2 khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị L trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

Cha và mẹ của bà L là ông Nguyễn Công T3 (chết vào năm 2006) và bà Phan Thị H1 (chết vào năm 1996) có tất cả 08 người con, kể tên ra như sau:

-Ông Nguyễn Văn S (ông S), bà Nguyễn Thị T1 (bà T1), ông Nguyễn Văn M (ông M), ông Nguyễn Ngọc S1 (ông S1), ông Nguyễn Văn T2 (ông T2), bà Nguyễn Thị C (bà C), ông Nguyễn Văn H (ông H) và bà Nguyễn Thị L (bà L).

Trước ngày 30/04/1975, ông T3 và bà H1 tạo lập được phần đất có diện tích vào khoảng 17.000m² tại ấp F, xã H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là phường H, quận C, thành phố Cần Thơ); đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 00579/QSD.

Khi còn sống, cha-mẹ của bà L có nói rằng sẽ cho mỗi người con gái khoảng 1.000 m² đất (để làm ăn, sinh sống).

Vào năm 1996, bà H1 chết; đến năm 2006, ông T3 chết, đều không có di chúc.

Sau đó, ông H tự ý làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ cấp GCNQSDĐ số 02159 ngày 23/08/2002 đối với phần đất do ông T3-bà H1 để lại.

Sau nhiều lần bị thu hồi để làm những dự án, phần đất mà ông T3-bà H1 để lại, hiện nay do ông H đứng tên, hiện nay còn lại các thửa đất sau đây:

-Thửa đất số 57, diện tích 1.701m² (CLN); thửa đất số 38, diện tích 858,6 m² (ODT: 300 m², CLN: 558,6 m²) và thửa đất số 498, diện tích 1.513,2 m² (LUC), tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, xác định theo các GCNQSDĐ số CS05213, số CS05212 và số CS05211 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp vào cùng ngày 06/09/2017.

Hiện nay, một phần thuộc các thửa số 57, 38 và 498 đã bị thu hồi, tổng diện tích bị thu hồi là 621,60m² (thửa 38 bị thu hồi 328,9m², thửa 57 bị thu hồi 129,7m², thửa 498 bị thu hồi 163m²) để thực hiện dự án (hạng mục đường và cầu T, đường song hành đến nút giao IC3), ông H đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ về đất là 319.608.000 đồng.

Vì vậy, bà L khởi kiện, yêu cầu chia thừa kế như sau:

-Chia số tiền 319.608.000 đồng cho 08 người thừa kế;

-Chia giá trị những phần đất còn lại (sau khi bị thu hồi) là 3.451,20m² (thuộc các thửa số 57, 38 và 498) cho 08 người thừa kế.

Những người được hưởng thừa kế gồm có: bà L, ông S, ông M, ông S1, ông T2, bà T1, bà C và ông H.

Bà L cũng yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập vào ngày 19/06/2022 giữa ông T3 và ông H.

Ông Nguyễn Văn H trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, như sau:

Phần đất thuộc các thửa số 57, diện tích 1.701m²; thửa 38, diện tích 858,6m² và thửa số 498, diện tích 1.513,2m², tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (theo các GCNQSDĐ số CS05213, số CS05212 và số CS05211 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cùng ngày 06/9/2017 cho ông H) là tài sản của ông T3, là người cha của ông H (cũng là người cha của những đồng thừa kế trong vụ án này).

Khi còn sống, vào ngày 19/06/2002, ông T3 ký kết hợp đồng, chuyển nhượng đất cho ông H. Vì vậy, ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến như sau:

-Ông S, bà T1, ông M, ông S1, ông T2, bà C có cùng ý kiến với bà L;

-Bà P có cùng ý kiến với ông H.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 99/2022/DS-ST ngày 09/9/2022, Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử như sau:

-Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần đất thuộc thửa số 57, diện tích 1.701m²; thửa số 38, diện tích 858,6m²; thửa số 498, diện tích 1.513,2m², tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, được thể hiện theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05213, số CS05212 và số CS05211 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cùng ngày 06/9/2017 cho ông Nguyễn Văn H đứng tên và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Công T3 và ông Nguyễn Văn H lập ngày 19/6/2002.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng mà đương sự phải chịu.

Vào ngày 21/09/2022, bà L, ông S, bà T1, ông M, ông S1, ông T2, bà C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 243/2023/DS-PT ngày 31/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử như sau:

Sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

-Xác định di sản thừa kế là bà Phan Thị H1 để lại bao gồm:

+Giá trị quyền sử dụng đất là 7.752.413.200 đồng (tương ứng ½ giá trị quyền sử dụng đất của các phần đất thuộc thửa số 57, diện tích 1.701m²; thửa số 38, diện tích 858,6m²; thửa số 498, diện tích 1.513,2m², tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, được thể hiện theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05213, số CS05212 và số CS05211 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cùng ngày 06/9/2017 cho ông Nguyễn Văn H đứng tên).

+Số tiền bồi thường về đất là 159.804.000 đồng (tương ứng ½ khoản tiền được bồi thường về đất).

-Những người cùng hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản của bà H1 bao gồm: ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L.

-Phân chia di sản như sau: Ông Nguyễn Văn H hoàn lại giá trị di sản cho mỗi người thừa kế (bao gồm: ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Ngọc S1, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L) là 879.135.000 đồng để được toàn quyền sử dụng các phần đất đã được xác định nêu trên và sở hữu số tiền bồi thường về đất là 319.608.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/6/2002 giữa ông Nguyễn Công T3 và ông Nguyễn Văn H.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Vào ngày 09/06/2023, ông Nguyễn Văn H có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm.

Tại quyết định số 09/QĐ-VKS-DS ngày 19/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nói trên và đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Lý do như sau:

-Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ ngày 10/01/1997, ông T3 kê khai rằng những phần đất (đang tranh chấp) nói trên, là tài sản của cha-mẹ (của ông T3) để lại và được người cậu tặng-cho vào năm 1989. Do đó, UBND thành phố C, tỉnh Cần Thơ đã cấp GCNQSDĐ cho ông T3 đối với thửa đất số 130; 124; 133; 232; 236; 230; 191, tờ bản đồ số 02, ấp F, xã H, thành phố Cần Thơ. Chiếu theo Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1987, thì những phần đất vừa nêu, là tài sản riêng của ông T3;

-Vào ngày 19/06/2002, ông T3 ký kết hợp đồng, tặng-cho những thửa đất số 130; 124; 133; 232; 236; 230; 191 nói trên, cho ông H; căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng đất hợp pháp, ông H được UBND thành phố C, tỉnh Cần Thơ cấp GCNQSDĐ số 02159 ngày 23/08/2002. Trong quá trình sử dụng đất, những phần đất này đã bị thu hồi một phần, đã được ông H chuyển nhượng một phần cho người khác và ông H là người nhận tiền từ việc bồi thường, chuyển nhượng đó, mà không bị bất cứ đồng thừa kế nào, khiếu nại;

-Như vậy, có đủ căn cứ để xác định rằng toàn bộ những phần đất nói trên, là tài sản riêng của ông H, không phải là di sản thừa kế của ông T3-bà H1 để lại.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Tài sản mà các đương sự tranh chấp trong vụ án này, là những tài sản liệt kê sau đây:

-Thửa đất số 57, diện tích 1.701m² (CLN); thửa đất số 38, diện tích 858,6 m² (ODT: 300 m², CLN: 558,6m²) và thửa đất số 498, diện tích 1.513,2 m² (LUC), tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, theo (thứ tự liệt kê) các GCNQSDĐ mang số sau đây: số CI713816 (số vào sổ cấp GCN: CS05213), số CI713818 (số vào sổ cấp GCN: CS05212) và số CI713819 (số vào sổ cấp GCN: CS05211) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp vào cùng ngày 06/09/2017;

-Số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất (do một phần những thửa đất nói trên bị thu hồi trong thời gian vừa qua), là 319.608.000 đồng (tổng diện tích bị thu hồi là 621,60m², cụ thể như sau: thửa 38 bị thu hồi 328,9m², thửa 57 bị thu hồi 129,7m², thửa 498 bị thu hồi 163m², để thực hiện dự án hạng mục đường và cầu T, đường song hành đến nút giao IC3).

[2]Xét về nguồn gốc của những thửa đất tranh chấp nói trên:

[2.1]Những thửa đất tranh chấp nói trên, được cấp GCNQSDĐ lần đầu cho ông Nguyễn Công T3 theo GCNQSDĐ số H050910 (số vào sổ cấp GCN: 00579) ngày 10/01/1997 do UBND thành phố C cấp. Tại đơn xin đăng ký QSDĐ ghi ngày 19/10/1995, ông Nguyễn Công T3 khai rằng nguồn gốc tạo lập đất là do cha-mẹ và cậu, để lại và tặng-cho, vào năm 1989.

Đến tháng 06/2002, ông Nguyễn Công T3 lập hợp đồng, chuyển nhượng QSDĐ (dưới hình thức là tặng-cho) cho ông Nguyễn Văn H. Trên cơ sở của việc tặng-cho này, ông Nguyễn Văn H xác lập QSDĐ theo GCNQSDĐ số V528987 (số vào sổ cấp GCN: 02112) ngày 23/08/2002 do UBND thành phố C cấp.

Trong thời gian vừa qua, những thửa đất nói trên bị Nhà nước thu hồi một phần (số tiền mà Nhà nước bồi thường, hỗ trợ là 319.608.000 đồng, do ông Nguyễn Văn H nhận). Về mặt pháp lý, hiện nay là thửa đất số 57, diện tích 1.701m² (CLN); thửa đất số 38, diện tích 858,6 m² (ODT: 300 m², CLN: 558,6m²) và thửa đất số 498, diện tích 1.513,2 m² (LUC), tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ, như đã nói ở phần trên.

[2.2]Như vậy, Tòa án có căn cứ để xác định rằng tài sản (những thửa đất) nói trên, có nguồn gốc tạo lập là của cha-mẹ và người cậu của ông Nguyễn Công T3, cho ông Nguyễn Công T3 trong thời kỳ hôn nhân với bà Phan Thị H1.

[3]Mặc dù là tài được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân với bà Phan Thị H1, nhưng có căn cứ để xác định rằng những thửa đất nói trên, đã được nhập vào khối tài sản chung của vợ-chồng ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1;

Lý do như sau:

[3.1]Thời kỳ hôn nhân của ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1 bắt đầu vào khoảng năm 1953, kết thúc vào năm 1996 (khi bà Phan Thị H1 chết); thời kỳ hôn nhân này không bị gián đoạn.

Trong thời kỳ hôn nhân, những thửa đất nói trên đã được gia đình ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1 cùng quản lý, khai thác và cùng hưởng lợi với nhau, nhằm để phục vụ nhu cầu của cuộc sống gia đình.

[3.2]Vào ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết số 76-CP về việc hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất cả nước; theo Nghị quyết này, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 áp dụng ở miền N, kể từ ngày 25/03/1977.

Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định về tài sản của vợ-chồng như sau: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Như vậy, định chế “Tài sản riêng” của người vợ/người chồng trong thời kỳ hôn nhân của họ, đã không được thừa nhận theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.

Những Luật Hôn nhân và Gia đình sau đó: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 (Điều 16); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Điều 32); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 43; Điều 44) đều có một điểm chung là thừa nhận định chế “Tài sản riêng” của người vợ/người chồng trong thời kỳ hôn nhân và thừa nhận về quyền định đoạt của họ, đối với tài sản riêng.

[3.3]Nhập tài sản riêng/không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ-chồng, là quyền định đoạt riêng của người vợ/người chồng.

Bằng chứng về việc “Nhập tài sản riêng/không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ-chồng” có thể biểu hiện bằng nhiều hình thức: bằng văn bản; bằng những hành vi cụ thể trong thời kỳ hôn nhân.....

Suy đoán về việc “Nhập tài sản riêng/không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ-chồng” còn được xác định dựa vào thời điểm tạo lập tài sản, khoảng thời gian tồn tại của tài sản đó trong thời kỳ hôn nhân.

[3.4]Như vậy, nếu cho rằng thời điểm tạo lập tài sản là vào năm 1989 (khi ông Nguyễn Công T3 được cha-mẹ và người cậu, tặng-cho những thửa đất tranh chấp nói trên), thì thời gian tồn tại của tài sản này trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1, kéo dài đến năm 1996 (khi bà Phan Thị H1 chết), là khoảng 07 năm; trong thời gian này, như đã phân tích ở phần trên, gia đình ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1 cùng quản lý, khai thác và cùng hưởng lợi với nhau, đối với khối tài sản này, nhằm để phục vụ nhu cầu của cuộc sống gia đình.

Mặt khác, việc xác lập QSDĐ của ông Nguyễn Công T3 xảy ra vào năm 1997, khi bà Phan Thị H1 đã chết. Vì vậy, không có bằng chứng để xác định về ý kiến của bà Phan Thị H1 đối với quyền về những thửa đất nói trên.

[4]Với những tài liệu, chứng cứ và diễn biến của vụ án đã phân tích ở phần trên, Tòa án có căn cứ để suy đoán rằng tài sản tranh chấp trong vụ án này, là tài sản chung của ông Nguyễn Công T3-bà Phan Thị H1 theo tỷ lệ mỗi người có quyền sở hữu ½ tài sản.

Do đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử, chia đều di sản của bà Phan Thị H1 để lại, cho những người thừa kế, là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 19/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 243/2023/DS-PT ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L; bị đơn là ông Nguyễn Văn H (và những người khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

  2. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • -Chánh án TANDCC tại TP. HCM (để báo cáo);
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC;
  • -VKSNDCC tại TP. HCM;
  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -TAND quận Cái Răng, TP. Cần Thơ;
  • -Chi cục THADS quận Cái Răng, TP. Cần Thơ;
  • -Lưu P.LTHS, P.GĐKT2, HS, THS (AQ).

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 106/2024/DS-GĐT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 106/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 19/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 43/2023/DS-PT ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger