TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định Giám đốc thẩm
Số: 105/2024/DS-GĐT
Ngày: 06/05/2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;
Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;
ông Võ Văn Khoa.
Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân, Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1971;
Địa chỉ: thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn:
Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1970;
Địa chỉ: thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện của ông Hoàng Văn T (văn bản ủy quyền ngày 13/02/2023):
Ông Đào Văn M, sinh năm 1970;
Địa chỉ: 9 Triệu Việt Vương, phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1965;
- Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1971;
Địa chỉ: thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1969;
Địa chỉ: thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện B, tỉnh Lâm Đồng;
Địa chỉ: 02 Nguyễn Tất Thành, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng (văn bản uỷ quyền ngày 31/5/2021):
Ông Nguyễn Trung T2, là Phó Chủ tịch UBND huyện B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Phạm Thị H trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Vào tháng 11/2014, vợ-chồng bà Phạm Thị H (bà H) nhận sang nhượng của vợ-chồng ông Nguyễn Đức N (ông N)-bà Hoàng Thị V (bà V) thửa đất số 439, tờ bản đồ 22, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, diện tích là 10.011m² đất nông nghiệp, trồng cà phê, chè cành, thuộc (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số BU 201493 ngày 21/08/2014).
Khi nhận chuyển nhượng, hai bên có bàn giao đất thực tế nhưng không đo đạc lại. Tuy nhiên, ông N-bà V đã xác nhận (tại giấy sang nhượng ngày 12/11/2014) rằng thửa đất có chiều rộng giáp mặt đường, là 27,5m; chiều rộng mặt sau giáp suối, là 51m.
Cho đến ngày này, bà H cho rằng vợ-chồng ông Hoàng Văn T (ông T)-bà Hoàng Thị T1 (bà T1) đã lấn chiếm 635,6m² đất. Do vậy, bà H khởi kiện, đòi ông T-bà T1 trả lại phần đất lấn chiếm là 635,6m² và phải tháo dỡ công trình xây dựng có diện tích 1,3m² (có các cạnh 2,3m x 2,0m x 1,3m).
Ông Hoàng Văn T trình bày ý kiến như sau:
Vào năm 2014, ông T-bà T1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N1 thửa đất số 437 và thửa đất số 438, tờ bản đồ 22, xã L, huyện B, tổng diện tích là 30.321m², đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng diện tích thực tế sử dụng là 37.000m².
Ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì cho rằng đương sự không lấn chiếm đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị V trình bày ý kiến như sau:
Vào tháng 11/2014, vợ-chồng bà V chuyển nhượng cho vợ-chồng bà H-ông Bùi Văn H1 (ông H1) thửa đất số 439, tờ bản đồ 22, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, diện tích là 10.011m² đất nông nghiệp, trồng cà phê, chè cành, đã được cấp GCNQSDĐ số BU 201493 ngày 21/08/2014.
Khi chuyển nhượng, hai bên có giao đất thực tế nhưng không đo đạc cụ thể. Vợ-chồng bà V thừa nhận rằng họ đã xác nhận tại giấy sang nhượng (viết tay) vào ngày 12/11/2014 là thửa đất có chiều ngang mặt đường 27,5m, chiều ngang mặt sau giáp suối là 51m.
Bà V đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn H1 trình bày ý kiến như sau: đồng ý với lời trình bày của bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị T1 trình bày ý kiến như sau: đồng ý với lời trình bày của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện B trình bày ý kiến như sau:
UBND huyện B cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Đức N và bà Hoàng Thị V theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2845/quyển 34/CC-SCC/HĐGD ngày 03/07/2014 công chứng tại Văn phòng C đối với thửa đất số 439, tờ bản đồ 22, xã L giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3 và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Đức N-bà Hoàng Thị V; việc cấp GCNQSDĐ là đúng trình tự, thủ tục luật định.
UBND huyện B cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5334/quyển 05TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/01/2014 công chứng tại Văn phòng C1 đối với thửa số 438, tờ bản đồ 22 xã L, giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3 và bên nhận chuyển nhượng là ông Hoàng Văn T; việc cấp GCNQSDĐ đúng trình tự, thủ tục luật định.
UBND huyện B đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo pháp luật.
Ông Nguyễn Đức N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều vắng mặt và không có lời khai.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 40/2022/DS-ST ngày 12/09/2022, Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Hoàng Văn T.
Buộc ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị T1 phải trả lại cho bà Phạm Thị H diện tích 574,2m² và tháo dỡ một phần căn nhà lưới, khung sắt, tường xây cao 0,8m ốp gạch men, có diện tích 1,3m² gồm các cạnh (2,3m x 2,0m x 1,3m) thuộc một phần thửa đất 439 (cũ), tờ bản đồ 22, xã L, huyện B; tạm giao diện tích 14,7m² đất liền kề thửa 439 phần tiếp giáp mặt đường đi thủy điện Đồng Nai 5 cho bà Phạm Thị H quản lý sử dụng, bà H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H đối với diện tích 29,8m² thuộc một thửa đất 438 (cũ), tờ bản đồ 22, xã L, huyện B.
(kèm theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính ngày 13/4/2022).
Buộc bà Phạm Thị H phải thanh toán giá trị một phần căn nhà lưới, khung sắt, tường xây cao 0,8m ốp gạch men, có diện tích 1,3m² gồm các cạnh (2,3m x 2,0m x 1,3m) với số tiền là 1.824.469 đồng và giá trị cây trồng gồm 32 trụ Tiêu trồng năm 2014, 01 cây Bơ 06 năm tuổi, 02 cây Bơ 04 năm tuổi, 02 cây Mận trồng năm 2017, 02 cây Mít 04 năm tuổi, 02 cây Cà phê trồng năm 2014 với số tiền là 11.357.250 đồng, tổng cộng 13.181.719 đồng cho ông Hoàng Văn T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Vào ngày 28/9/2022, ông Hoàng Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại bản án Dân sự phúc thẩm số 45/2023/DS-PT ngày 17/03/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử như sau:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 40/2022/DS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm.
Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, lãi suất do chậm thi hành án, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Vào ngày 15/05/2023, ông Hoàng Văn T có đơn yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm.
Tại quyết định số 61/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 21/02/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nói trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
Lý do như sau:
- Thửa đất số 439 (của nguyên đơn-bà H), thửa đất số 437; số 438 (của bị đơn-ông T) đều xuất phát từ việc chuyển nhượng thửa đất số 424 (của vợ chồng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3) mà có. Khi giải quyết vụ án, Tòa án hai cấp không đưa vợ-chồng ông N1-bà T3 tham gia tố tụng, là thiếu sót;
- Tòa án hai cấp chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định nguyên nhân thay đổi về diện tích của các thửa đất (của hai bên đương sự) so với diện tích nguyên thủy, nhưng đã xét xử vụ án, là chưa có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị với lý do nói trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Xét về thủ tục tố tụng:
Thửa đất số 437; 438, tờ bản đồ số 22, xã L, huyện B (hiện nay là thửa đất số 35; 36, tờ bản đồ số 56) của ông Hoàng Văn T và thửa đất số 439, tờ bản đồ số 22, xã L, huyện B (hiện nay là thửa đất số 37, tờ bản đồ số 56) của bà Phạm Thị H, đều là những thửa đất xuất phát từ việc nhận chuyển nhượng từ thửa đất nguyên thủy số 424, tờ bản đồ số 22, xã L, huyện B, của vợ-chồng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3, mà có.
Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự trong vụ án đều là những giao dịch dân sự đã hoàn tất về thủ tục hành chính và về việc giao-nhận đất trong thực tế. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp (về diện tích đất đã nhận chuyển nhượng) giữa những người sử dụng đất hiện hành, Tòa án không cần phải triệu tập người chuyển nhượng đất nguyên thủy (vợ-chồng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bởi vì họ (vợ-chồng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3), sau khi chuyển nhượng hết phần đất vốn dĩ của mình, đã không có quyền lợi, nghĩa vụ gì nữa.
Do đó, việc kháng nghị cho rằng cần phải triệu tập vợ-chồng ông Nguyễn Văn N1-bà Nguyễn Thị T3 tham gia tố tụng (với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), là không đúng thủ tục tố tụng.
[2]Xét về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1]Theo bản họa đồ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B thiết lập và phê duyệt vào ngày 13/04/2022, thì tương quan về vị trí giữa thửa đất số 437; số 438 (của ông Hoàng Văn T) và thửa đất số 439 (của bà Phạm Thị H), như sau:
- Đứng ở ngoài đường đi thủy điện Đồng Nai 5 nhìn vào, theo chiều từ trái qua phải: đầu tiên là thửa đất số 437, rồi đến thửa đất số 438 và sau cùng là thửa đất số 439;
- Thửa đất số 438 và thửa đất số 439 là hai thửa đất ở sát với nhau, cũng là hai thửa có phần diện tích đất mà hai bên đương sự tranh chấp, là 635,6 m².
Như vậy, để giải quyết việc tranh chấp giữa hai bên đương sự (xác định 635,6 m² đất là của ai), thì Tòa án chỉ cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan trực tiếp đến hai thửa đất số 438 và số 439, mà không cần phải thu thập tài liệu liên quan đến thửa đất số 437, bởi vì thửa đất này không có ranh giới trực tiếp với thửa đất tranh chấp số 439 của bà Phạm Thị H.
Do đó, việc kháng nghị cho rằng cần phải thu thập tài liệu liên quan đến thửa đất số 437, là việc làm không cần thiết và không đúng pháp luật.
[2.2]Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án hai cấp đã thực hiện đầy đủ việc thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ của vụ án, Tòa án có thể kết luận như sau:
- Tổng diện tích đất mà bà Phạm Thị H khởi kiện, đòi ông Hoàng Văn T phải trả lại, là 635,6m²; phần đất tranh chấp này nằm ở ranh giới giữa thửa đất số 438 và thửa đất số 439;
- Trong số 635,6m² đất tranh chấp nói trên, chỉ có 574,2m² đất thuộc thửa đất số 439 của bà Phạm Thị H và có 14,7m² đất, tuy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng phần đất này (14,7m²) lại nằm liền kề thửa đất số 439 (của bà Phạm Thị H) và không thuộc thửa đất số 438 (của ông Hoàng Văn T).
[2.3]Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ của vụ án đã phân tích nói trên, Tòa án hai cấp tại tỉnh Lâm Đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H (buộc ông Hoàng Văn T phải trả lại 574,2m² đất thuộc thửa đất số 439; tạm giao cho bà Phạm Thị H quản lý 14,7m² đất nằm liền kề thửa đất số 439 và đương sự sẽ được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xác lập quyền sử dụng đất theo luật định); việc xét xử như vậy là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng nghị số 61/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 21/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 45/2023/DS-PT ngày 17/03/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Phạm Thị H; bị đơn là ông Hoàng Văn T (và những người khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi nhận:
| TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 105/2024/DS-GĐT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 105/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng nghị số 61/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 21/02/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án Dân sự phúc thẩm số 45/2023/DS-PT ngày 17/03/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
