Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 104 / 2024/HSST
Ngày 07/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà
  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga.
  • Ông Phạm Quốc Trung.
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Thương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Đinh Việt Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024 /HSST ngày 18 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/ 2024, ngày 25 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo :

Nguyễn Thị S sinh ngày 15/4/1994. Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nữ.

Nơi thường trú và chỗ ở: Xóm Trại Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Dân tộc : Kinh - Quốc tịch : Việt Nam. Tôn giáo : không

Trình độ học vấn : 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Căn cước công dân số: [...]. Nơi cấp : Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.

Con ông: Nguyễn Văn Đ ( đã chết).

Con bà : Nguyễn Thị H, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Xóm Trại Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 chị em.

Có chồng là : Phạm Tuấn A, sinh năm 1991.

Có hai con là Phạm Anh Ph sinh năm 2021; Phạm Anh Đức sinh năm 2023.

Hiện ở tại: Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, TP.Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Tiền án: không.

Tiền sự : không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Đinh Thị D, sinh năm 1951.

Địa chỉ : Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị S cùng chồng thuê nhà ở tại tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để buôn bán hàng ăn. Quá trình sinh sống tại đây, S có quen biết và thường xuyên qua lại, đến chơi với gia đình bà Đinh Thị D là hàng xóm ở cạnh nhà thuê của S.Tối ngày 13/12/2023, biết bà D cùng các con không có ở nhà, S nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà D để trộm cắp tài sản. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, S đi ra sau vườn nhà, trèo qua tường sang vườn nhà bà D. Thấy cửa bếp nhà bà D đang mở, S lẻn qua bếp để đi vào trong nhà. Quan sát thấy chồng bà D là ông Nguyễn Văn Đ (SN 1954; trú tại: tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) đang đóng cửa phòng khách để xem ti vi, S đi thẳng vào phòng ngủ của bà D tìm kiếm tài sản. Tại đây, S phát hiện thấy 01 chiếc hòm tôn có khóa ngoài, S bỏ hết đồ đạc trên nắp hòm sang bên cạnh, bê hòm tôn ra khỏi phòng ngủ, đi ra vườn nhà bà D qua lối cửa bếp, trèo qua tường nhà bà D đi về phía bãi đất trống sau nhà S. Quan sát xung quanh không có ai, S đặt hòm tôn xuống đất, dùng tay giật phá khóa mở được nắp hòm tôn. S kiểm tra thấy bên trong có một số giấy tờ, đồ đạc, 01 sợi dây chuyền vàng, 02 nhẫn vàng cùng một số hộp nhựa nhỏ, túi vải đỏ dùng để đựng vàng. S để hòm tôn lại, lấy 02 chiếc túi nilon ở trong hòm, bỏ tất cả đồ đạc, giấy tờ cùng dây truyền và nhẫn vàng vào túi nilon cất giấu sát tường phía sau nhà S, sau đó Sim đi về nhà.

Khi bà D về nhà, phát hiện bị kẻ gian đột nhập trộm cắp 01 con lợn đất bên trong có 4.000.000 đồng; 01 hòm tôn bên trong có nhiều giấy tờ, đồ đạc, và vàng. Ngày 14/12/2023, bà D đã đến Công an phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để trình báo về nội dung sự việc.

Đến ngày 16/12/2023, sau khi nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật, Nguyễn Thị S đã đến Công an phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đầu thú và giao nộp tài sản đã trộm cắp được cho Cơ quan Công an. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình, kết luận:

  • “- 01 dây chuyền kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), hàm lượng vàng: 99,99%, khối lượng: 9,8g, hình dạng mắt xích, chiều dài: 43cm kèm theo 01 giấy đảm bảo tuổi vàng của “Vàng bạc Nam Chính”, trọng lượng 2,615 chỉ, vàng 9999 trị giá 16.182.000 đồng;
  • - 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 5,62g, hàm lượng vàng: 99,98%, hàm lượng bạc (Ag): 0,01g, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi “NAMCHINH 9999 1,5C” trị giá 9.300.000 đồng;
  • - 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 3,75g, hàm lượng vàng: 99,82%, hàm lượng bạc (Ag): 0,17g, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi “NAMCHINH 9999 1C” trị giá 6.200.000 đồng;
  • - 01 túi vải màu đỏ, kích thước: 10x8(cm), mặt ngoài có ghi “Công ty vàng bạc Nam Chính - Giữ tín nhiệm hơn giữ vàng”; 01 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 4x4,5x2,75(cm); 02 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 3,5x3,2x2(cm) tình trạng đều đã qua sử dụng trị giá 5.000 đồng;
  • - 01 hộp kim loại (hòm tôn), màu xám - bạc, kích thước: 55x35x20(cm), có tay xách, móc khóa giữa phần nắp và thân hộp, vị trí móc khóa bị cong vênh, móp méo, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 65.000 đồng;
  • - 01 hộp kim loại, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng, là hộp bánh nhãn hiệu Orion Goute, kích thước: 35x20x10(cm), tình trạng đã qua sử dụng trị giá 10.000 đồng;
  • - 01 ổ khóa bằng kim loại, nhãn hiệu “Việt Tiệp”, thân khóa đen, móc khóa màu bạc, kích thước khoảng: 5x4(cm), tình trạng đã qua sử dụng trị giá 20.000 đồng;
  • - 01 “con lợn đất để tiền tiết kiệm” làm bằng thạch cao, màu vàng, kích thước khoảng: 50x15x15(cm), tình trạng nguyên vẹn, đã qua sử dụng trị giá 50.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp tài sản là 31.832.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Đối với các đồ vật, tài sản trong hòm tôn thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đinh Thị D, gồm:

  • + 01 hòm kim loại (tôn), màu xám-bạc, kích thước: 55x35x20(cm), có tay xách, móc khóa giữa phần nắp và thân hộp, vị trí móc khóa bị cong vênh, móp méo, tình trạng đã qua sử dụng;
  • + 01 dây chuyền kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), hàm lượng vàng: 99,99%, khối lượng: 9,80(g), hình dạng mắt xích, chiều dài: 43cm; Kèm theo 01 Giấy đảm bảo tuổi vàng của “Vàng bạc Nam Chính”, trọng lượng: 2,615 chỉ, tuổi vàng: 9999;
  • + 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 5,62(g), hàm lượng vàng: 99,98%, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi: “NAMCHINH 9999 1,5C”;
  • + 01 nhẫn tròn kim loại, màu vàng, loại kim loại: vàng (Au), khối lượng: 3,75(g), hàm lượng vàng: 99,82%, nhẫn trơn không có họa tiết đính trang trí, mặt trong có ghi: “NAMCHINH 9999 1C”;
  • + 01 túi vải màu đỏ, kích thước: 10x8(cm), mặt ngoài có ghi: “Công ty vàng bạc Nam Chính - Giữ tín nhiệm hơn giữ vàng”; 01 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 4x4,5x2,75(cm); 02 hộp nhựa (đựng vàng), màu đỏ, kích thước: 3,5x3,2x2(cm); tình trạng đều đã qua sử dụng;
  • + 01 hộp kim loại, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng, là hộp bánh nhãn hiệu Orion Goute, kích thước: 35x20x10(cm), tình trạng đã qua sử dụng;
  • + 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam (AgriBank) số AC 00036540615, phát hành ngày 16/6/2023, tên khách hàng: Đinh Thị D;
  • + 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam (AgriBank) số AC 00036543425, phát hành ngày 11/7/2023, tên khách hàng: Đinh Thị D;
  • + 01 sổ tiết kiệm có kỳ hạn mở tại Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam (AgriBank) số AC 00033210019, phát hành ngày 05/12/2023, tên khách hàng: Nguyễn Văn H;
  • + 01 sổ giao đất, giao rừng số 125 do UBND huyện Kỳ Sơn cấp ngày 01/4/1989 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, đội sản xuất số 6, xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;
  • + 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 222866 do UBND huyện Kỳ Sơn cấp ngày 12/11/2008 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ; thửa đất số 232, tờ bản đồ số 38, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;
  • + 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 622961 do UBND huyện Kỳ Sơn cấp ngày 07/10/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ; thửa đất số 23-35, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình;
  • + 01 quyển vở, bìa màu hồng, nhãn hiệu Hồng Hà, tại trang giữa có viết 01 Hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 28/11/2019, nội dung chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Thanh S và ông Nguyễn Anh T cho ông Nguyễn Văn H; ngoài ra không có nội dung gì khác;
  • + 01 giấy kỷ niệm chương do Hội người cao tuổi Việt Nam cấp cho bà Đinh Thị D ngày 26/5/2020;
  • + 01 giấy chứng nhận do Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Kỳ Sơn cấp ngày 20/8/1998 cho bà Đinh Thị D;
  • + 01 giấy chứng nhận do Đảng bộ huyện Kỳ Sơn cấp ngày 20/11/2005 cho bà Đinh Thị D;
  • + 01 giấy chứng nhận do Giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Kỳ Sơn cấp ngày 20/10/2003 cho bà Đinh Thị D;
  • + 01 hộ chiếu số C3688096 do Cục QLXNC - Bộ Công an cấp ngày 14/9/2017 của bà Đinh Thị D;
  • + 01 thẻ đảng viên số 10.023043 do Đảng bộ tỉnh Hòa Bình cấp ngày 02/9/2004 cho bà Đinh Thị D;
  • + 01 thẻ đảng viên số 2870282 do Tỉnh ủy tỉnh Hòa Bình cấp ngày 19/5/1997 cho bà Đinh Thị D;
  • + 01 thẻ hội viên Hội nông dân Việt Nam của bà Đinh Thị D;
  • + 17 biên lai thu thuế nhà, đất của hộ ông Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: xóm Ngọc, xã Trung Minh;
  • + 01 giấy chứng nhận Huy chương kháng chiến hạng Nhì cấp cho gia đình ông Nguyễn Văn Đ;
  • + 01 sổ hướng dẫn hệ thống canh tác của hộ ông Nguyễn Văn Đ, đội sản xuất số 6, HTX Trung Minh;
  • + Một số túi nilon (màu đen, đỏ,...), vỏ hộp nhựa, bìa cát-tông cũ đã qua sử dụng;

- Đối với chiếc ổ khóa khóa hòm tôn và con lợn đất bên trong có khoảng 4.000.000 đồng; hiện chưa xác định được đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Đinh Thị D đã nhận lại các tài sản bị trộm cắp. Bà D không đề nghị, yêu cầu Nguyễn Thị S phải bồi thường dân sự nên không đề cập giải quyết.

Vật chứng vụ án:

Toàn bộ các đồ vật, tài sản trong hòm tôn thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đinh Thị D, bà D đã nhận đầy đủ.

Bản cáo trạng số 95/ CT-VKSTPHB ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 52, Điều 38, điều 65 BLHS năm 2015 xử phạt Nguyễn Thị S mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.

Ngoài ra bị cáo còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đó tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra công an thành phố Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng, do vậy các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Do không có công ăn việc làm, không có thu thập, để có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 13/12/2023, Nguyễn Thị S đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của gia đình bà Đinh Thị D là hàng xóm tổng giá trị tài sản bị trộm cắp tài sản là 31.832.000 đồng ( Ba mươi mốt triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bản thân bị cáo không có công việc ổn định một mình nuôi hai con nhỏ, người bị hại bà Đinh Thị D có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, đang nuôi con nhỏ, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

bà Đinh Thị D đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường gì. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65. Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phía Tòa án:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố Nguyễn Thị S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

  3. Về hình phạt:
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 12 ( Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi bốn ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Nguyễn Thị S cho Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự

Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - Thi hành án hình sự TPHB;
  • - Chi cục THA DS TPHB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Hồng Quang.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 104 / 2024/HSST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số quyết định: 104 / 2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger