|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------- Số: 104/2022/QĐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tiến Phong.
Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Phương Anh
Đại diện VKSND TP Hà Nội: Bà Cao Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 104/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 105/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022, gồm những người yêu cầu sau đây:
- - Chị Phan Lê Thùy M, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu: Tổ 2, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: 1-5-1-ABC Higsai, Edku, Tokyo, Nhật Bản.
- Người đại diện do chị Phan Lê Thùy M ủy Q: Anh Đỗ Tiến Ph, sinh năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Cụm 1, xã L, huyện Ph, thành phố Hà Nội, có mặt.
- - Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Cụm 3, thôn V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn ly hôn và bản tự khai anh Nguyễn Văn Q trình bày: Tôi và chị Phan Lê Thùy M tìm hiểu, tự nguyện xây dựng gia đình và có đăng ký kết hôn ngày 30/12/2014 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Nhật Bản. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, tuy nhiên sau đó giữa chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân chính là do hai bên không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống. Chúng tôi sống ly thân từ ngày 17/8/2020, đến ngày 11/3/2021 tôi trở về Việt Nam còn chị M và con gái vẫn ở lại Nhật Bản. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chúng tôi thống nhất đề nghị Tòa án công nhân thuận tình ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hà My, sinh ngày 23/01/2019, hiện con đang ở với mẹ. Khi ly hôn, chị M sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con nhưng tôi vẫn sẽ thực hiện tròn trách nhiệm của một người cha.
Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong đơn ly hôn và bản tự khai chị Phan Lê Thùy M trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn chị thống nhất như anh Q đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Nhật Bản; tuy nhiên sau đó giữa chúng tôi bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp hợp nhau, hai bên thường xuyên tranh cãi, bất đồng quan điểm sống và không tôn trọng nhau. Vợ chồng ly thân từ ngày 17/8/2020 đến ngày 11/3/2021, anh Q quay về Việt Nam còn tôi và con gái vẫn sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Đến nay, cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, đề nghị Tòa án công nhận cho chúng tôi được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Nguyễn Hà My, sinh ngày 23/01/2019. Khi ly hôn, tôi sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh Q không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho tôi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên họp, có mặt anh Nguyễn Văn Q, vắng mặt chị Phan Lê Thùy M. Chị M có đơn xin vắng mặt vì hiện nay chị đang ở Nhật Bản do tình hình dịch bệnh và lý do công việc nên không về Việt Nam được. Chị M ủy Q cho anh Đỗ Tiến Ph thay chị nộp đơn, đóng án phí và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Hôn nhân của chị Phan Lê Thùy M và anh Nguyễn Văn Q có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Vợ chồng có 01 con chung, khi ly hôn hai bên thống nhất giao con chung cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh Q cấp dưỡng. Về tài sản chung và vay nợ chung anh chị cùng không yêu cầu giải quyết. Nay anh chị cùng xác định không còn tình cảm với nhau nữa và mong muốn ly hôn. Xét thấy, sự thuận tình ly hôn và các thỏa thuận về con chung, tài chung, nợ chung của hai bên đương sự là phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, do vậy đề nghị Tòa án chấp thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phan Lê Thùy M và anh Nguyễn Văn Q có đơn đề nghị công nhận thuận tình ly hôn. Chị Phan Lê Thùy M hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản nên theo quy định tại Điều 29, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Q và chị Phan Lê Thùy M do cả 02 cùng tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30/12/2014 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam nên được pháp luật bảo vệ. Sau kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Nhật Bản. Sau đó, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Anh chị chính thức sống ly thân từ ngày 17/8/2020. Ngày 11/3/2021 anh Q trở về Việt Nam, chị M và con gái hiện vẫn đang sinh sống tại Nhật Bản. Đến nay, anh chị cùng xác định không còn tình cảm với nhau nữa và mong muốn chấm dứt hôn nhân.
Xét thấy, hôn nhân của anh Q và chị M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của 02 anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Hà My, sinh ngày 23/01/2019. Khi ly hôn, anh chị thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị Phan Lê Thùy M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Chị M không yêu cầu về vấn đề cấp dưỡng, tuy nhiên anh Q xác định mình sẽ thực hiện tròn trách nhiệm của người cha đối với con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị xác nhận không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[5] Về lệ phí: Chị Phan Lê Thùy M tự nguyện chịu cả tiền lệ phí ly hôn.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 67, Điều 143, 146, 149, 367, 369, 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tình cảm: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Lê Thùy M và anh Nguyễn Văn Q. Chị Phan Lê Thùy M và anh Nguyễn Văn Q được chấm dứt hôn nhân.
- Ghi nhận về sự thỏa thuận khác của các đương sự như sau:
- - Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Hà My, sinh ngày 23/01/2019. Sau ly hôn, chị Phan Lê Thùy M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Phan Lê Thùy M. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn Q đến khi các bên có yêu cầu. Anh Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, vay nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- - Về lệ phí: Chị Phan Lê Thùy M tự nguyện chịu cả 300.000 đồng tiền lệ phí ly hôn; số tiền trên được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị M đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000802 ngày 31/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ban hành./.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Hà Nội; - UBND xã X, huyện X, Tỉnh Đồng Nai; - Cục THA. DS TP. Hà Nội; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Tiến Phong |
Quyết định số 104/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 104/2022/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2022
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn
