TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày 21-11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Trần Đại Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lương Công V, sinh ngày 28/02/2003 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Bá T (chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1978; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 25/11/2022; Nhân thân: Ngày 05/01/2021, bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác; Bị cáo tạm giam từ ngày 07/4/2023, có mặt tại phiên toà.
2. Mai Công T1, sinh ngày 28/02/2003 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T2, sinh năm 1977 và bà Đỗ Thị Hoài G, sinh năm 1983; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tạm giam từ ngày 07/4/2023, có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1. Anh Lương Bảo N, sinh năm 1992; Địa chỉ: E L, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
2. Chị Mai Thị Ánh N1, sinh ngày 08/02/2009; Người đại diện hợp pháp: Vợ chồng ông Mai Phụng K1, sinh năm 1975 và bà Phan Thị H, sinh năm 1990 (Cha mẹ ruột); Đồng trú: Khu phố F, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Chị N1, ông K1 có mặt tại phiên toà. Bà H vắng mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Huỳnh Như T3, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
2. Anh Đinh Minh T4, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
3. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
4. Anh Võ Thanh Q, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
5. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
1. Anh Lương Công A, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
2. Anh Mai Công T5, sinh năm 2000; Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 31/3/2023 đến ngày 01/4/2023, các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 đã hai lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản trên địa bàn huyện S và thành phố T, cụ thể:
Lần thứ nhất: Chiều ngày 31/3/2023, bị cáo T1 nhắn tin rủ bị cáo V đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo V đồng ý. Sau đó, bị cáo V điều khiển xe mô tô Sirius, màu đỏ đen, biển số 78L1-183.97, bị cáo V tháo biển số này rồi gắn biển số giả 78C1-379.79 chở bị cáo T1 đến thị trấn H, huyện S. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đang đi đường N đoạn gần Trung tâm y tế H1 khu phố E, thị trấn H, huyện S thì bị cáo V thấy chị Mai Thị Ánh N1, sinh ngày 08/02/2009 đang điều khiển xe đạp điện ở phía trước cùng chiều, ở túi quần phía sau bên trái có để một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S trị giá 3.360.000 đồng. Bị cáo V hỏi bị cáo T1 “có thấy điện thoại không”, bị cáo T1 trả lời “thấy”. Lúc này, bị cáo V điều khiển xe tăng tốc áp sát để bị cáo T1 ngồi sau dùng tay giật điện thoại của chị N1 rồi quay đầu xe tăng ga tẩu thoát về huyện T, tỉnh Phú Yên. Sau đó, bị cáo V chở bị cáo T1 đến thuê phòng nhà nghỉ S1 ở thị trấn C, huyện S ngủ lại qua đêm. Sáng ngày 01/4/2023, bị cáo V mang điện thoại cướp giật được đến tiệm điện thoại “Như Toàn” ở thị trấn C, huyện S bán cho anh Huỳnh Như T3 lấy 1.900.000 đồng. Bị cáo V trả tiền thuê phòng hết 500.000 đồng, còn lại các bị cáo V và bị cáo T1 chia nhau mỗi người 700.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Lần thứ hai: Ngày 01/4/2023, bị cáo V rủ bị cáo T1 xuống thành phố T cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo T1 đồng ý. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo V đang điều khiển xe mô tô Sirius gắn biển số giả 78C1-379.79 chở bị cáo T1 đi trên đường N hướng N–Bắc, đến đoạn thuộc khu phố B, phường P, thành phố T thì bị cáo V thấy anh Lương Bảo N đang điều khiển xe mô tô biển số 78F1-180.21 lưu hành phía trước cùng chiều và đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro trị giá 13.600.000 đồng. Bị cáo V chỉ tay về phía anh N và nói với bị cáo T1 “điện thoại kìa”, bị cáo T1 trả lời “thấy rồi”. Lúc này, bị cáo V điều khiển xe tăng ga vượt lên ngang hàng phía bên trái anh N rồi ép sát vào để bị cáo T1 ngồi sau giật điện thoại di động của anh N đang cầm trên tay. Thấy bị cáo T1 đã giật được điện thoại, bị cáo V điều khiển xe bỏ chạy về hướng huyện P theo đường Q. Khi đến cầu R thuộc thôn P, xã H, huyện P thì bị cáo V dừng xe lại, cả hai cởi mũ, áo khoác ngoài và tháo biển số xe 78C1-379.79 ném xuống dưới cầu rồi bị cáo V điều khiển xe chở bị cáo T1 đến nhà anh Võ Thanh Q (bạn của bị cáo V) nhờ anh Q bán dùm điện thoại thì anh Q nói để mai tính. Sau đó, bị cáo V và bị cáo T1 đem điện thoại giấu ở ngôi mộ rồi đến nhà nghỉ S1 thuộc thị trấn C, huyện S thuê phòng ngủ. Đến sáng ngày 02/4/2023, bị cáo V và bị cáo T1 đem điện thoại đến tiệm B ở thị trấn C, huyện S nhưng chủ tiệm chỉ mua với giá 2.000.000 đồng nên không bán. Bị cáo V và bị cáo T1 đến nhờ anh Q mở khóa I nhưng không được nên bị cáo V và bị cáo T1 đem điện thoại đến tiệm B bán cho anh Đinh Minh T4 lấy 2.000.000 đồng, các bị cáo chia mỗi người 1.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Mai Thị Ánh N1 và anh Lương Bảo N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 yêu cầu các bị cáo V và bị cáo T1 trả lại số tiền 1.900.000 đồng; anh Đinh Minh T4 yêu cầu các bị cáo V và bị cáo T1 trả lại số tiền 2.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị K (mẹ bị cáo V) đã nộp 1.950.000 đồng để bồi thường thay cho bị cáo V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã nộp số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa theo Biên lai thu tiền số 0002720 ngày 08/9/2023.
- Vật chứng và tài sản tạm giữ:
+ Đã trả lại cho chủ sở hữu: 01 điện thoại di động Iphone 12 pro, màu xanh dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S.
+ Đang tạm giữ chờ xử lý: 01 áo khoác dài tay, màu đen, ngực trái có dòng chữ “GUCCI”. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, biển số 78L1-183.97 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015323 mang tên Nguyễn Văn Đ do chưa xác định được ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nên Công an thành phố T tiếp tục tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSTH ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại các điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Ngày 29/9/2023, Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà ban hành Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 11/2023/HSST-QĐ.
Ngày 17/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa ban hành Công văn số 250/CV-VKS về việc giữ nguyên cáo trạng.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, g khoản 2 Điều 171; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo V và bị cáo T1. Riêng bị cáo V áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lương Công V từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/4/2023. Bị cáo Mai Công T1 từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/4/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự. Các bị hại chị Mai Thị Ánh N1 và anh Lương Bảo N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Buộc bị cáo Lương Công V phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 1.950.000 đồng mà bà Nguyễn Thị K (mẹ ruột của bị cáo V) đã nộp để bồi thường thay cho bị cáo V tại Biên lai thu tiền số 0002720 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Buộc bị cáo Mai Công T1 phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc áo khoác dài tay, màu đen, ngực trái có dòng chữ “GUCCI” vì không còn giá trị sử dụng. Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 (Hai) đĩa DVD vì là chứng cứ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 31/3/2023 và ngày 01/4/2023 tại thị trấn H, huyện S và thành phố T, tỉnh Phú Yên, các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 đã hai lần dùng phương tiện là xe mô tô áp sát phương tiện của người đi đường, giật lấy tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tài sản chiếm đoạt được gồm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của anh L Bảo Ninh trị giá 13.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10S của chị Mai Thị Ánh N1 trị giá 3.360.000 đồng, tổng giá trị là 16.960.000 đồng. Trong đó, có bị hại là người dưới 16 tuổi (chị Mai Thị Ánh N1 14 tuổi 01 tháng 23 ngày). Do đó, hành vi của các Lương Công V và Mai Công T1 đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại các điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 91/CT-VKSTH ngày 08/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện việc cướp giật tài sản. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án này, cả hai bị cáo đều là người chủ động tham gia với vai trò tích cực. Tuy nhiên, bị cáo Lương Công V có một tiền sự và nhân thân xấu nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại phạm tội nên áp dụng mức hình phạt của bị cáo Lương Công V phải cao hơn bị cáo Mai Công T1.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khai báo đã thực hiện một vụ cướp giật tài sản tại thị trấn H, huyện S trước khi bị phát hiện nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo. Ngoài ra, mẹ của bị cáo V đã nộp 1.950.000 đồng để bồi thường thay cho bị cáo V nên bị cáo V còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo thực hiện phạm tội hai lần trở nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho cả hai bị cáo.
[5] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 và anh Đinh Minh T4 có hành vi mua điện thoại di động của các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 cướp giật được nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Huỳnh Như T3 và anh Đinh Minh T4 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Thanh Q được bị cáo Lương Công V nhờ bán và mở mật khẩu Icloud điện thoại Iphone 12 Pro mà các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 cướp giật được nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Võ Thanh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Các bị hại chị Mai Thị Ánh N1 và anh Lương Bảo N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Buộc bị cáo Lương Công V phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 1.950.000 đồng mà bà Nguyễn Thị K (mẹ ruột của bị cáo V) đã nộp để bồi thường thay cho bị cáo V tại Biên lai thu tiền số 0002720 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Buộc bị cáo Mai Công T1 phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng.
[8] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc áo khoác dài tay, màu đen, ngực trái có dòng chữ “GUCCI” vì không còn giá trị sử dụng (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 11/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 (Hai) đĩa DVD vì là chứng cứ vụ án.
[9] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, biển số 78L1-183.97 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015323 mang tên Nguyễn Văn Đ do chưa xác định được ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nên Công an thành phố T tiếp tục tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.
[10] Về án phí: Bị cáo Lương Công V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Mai Công T1 phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng các điểm d, g khoản 2 Điều 171; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lương Công V và Mai Công T1. Riêng bị cáo Lương Công V áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Lương Công V 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/4/2023.
Bị cáo Mai Công T1 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/4/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lương Công V phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 1.950.000 đồng mà bà Nguyễn Thị K (mẹ ruột của bị cáo V) đã nộp để bồi thường thay cho bị cáo V tại Biên lai thu tiền số 0002720 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Buộc bị cáo Mai Công T1 phải bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Như T3 số tiền 950.000 đồng, anh Đinh Minh T4 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng là 1.950.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) chiếc áo khoác dài tay, màu đen, ngực trái có dòng chữ “GUCCI” (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 11/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa).
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 (Hai) đĩa DVD vì là chứng cứ vụ án.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo Lương Công V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Mai Công T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |
Quyết định số 103/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số quyết định: 103/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi, Tự phạm tội "Cướp giật tài sản"
