TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA Số:103/2024/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc Bỉm Sơn, ngày 11 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, Điều 397, Điều 212, Điều 213, Khoản 3 Điều 144, khoản 2 Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 55, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điều 6, khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 152/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: 1. Chị Lê Thị Y, sinh năm 1997
Địa chỉ: khu phố Đoài Thôn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
2. Anh Lê Xuân L, sinh năm 1994
Địa chỉ: khu phố Đ, phường Đ thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Y và anh Lê Xuân L đến với nhau tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là phường Đ), thị xã B, tỉnh Thanh Hóa ngày 26/11/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, đối lập nhau về cách sống và suy nghĩ, không có tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng luôn mệt mỏi, không có hạnh phúc. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau và không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân được nữa, nên anh chị cùng làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội nên Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị Y và anh Lê Xuân L.
[2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Bảo H (nữ), sinh ngày 24/9/2020. Sau khi ly hôn vợ chồng thống nhất giao cháu H cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12 năm 2024 cho đến khi cháu H thành niên và có khả năng lao động.
[3] Về tài sản: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về lệ phí ly hôn: Lệ phí ly hôn sơ thẩm chị Lê Thị Y nộp 150.000đ, chị Lê Xuân L nộp 150.000đ. Hai bên thỏa thuận anh L nộp thay phần lệ phí ly hôn cho chị Y.
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của những người yêu cầu được ghi trong biên bản ghi nhận hòa giải đoàn tụ không thành ngày 03 tháng 12 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Y và anh Lê Xuân L.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN TỐNG THỊ HÀ |
Quyết định số 103/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Số quyết định: 103/2024/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. - Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. 2. Lệ phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Y và anh Lê Xuân L mỗi người nộp 150.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền anh L đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) sang cho chị Y, anh L theo biên lai thu số: 0004694 ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn. Như vậy, chị Y, anh L đã nộp đủ lệ phí ly hôn sơ thẩm. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
