|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 1002/2024/QĐ - PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thảo
Các Thẩm phán Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Bà Đỗ Thị Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 594/2024/QÐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48; điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 361, khoản 2 Điều 273 và điểm c khoản 2 Điều 366 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án” giữa:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Huyền T, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Đường P, khu phố G, thị trấn C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1959;
- Bà Nguyễn Thị H
Địa chỉ: Tổ G, ấp Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số D đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 05 tháng 9 năm 2024, bà Phạm Thị Huyền T - chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự trên với lý do: Chấp hành viên đã thông báo cho người phải thi hành án quyền thỏa thuận và yêu cầu giải quyết, thông báo cho người được thi hành án quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu. Tuy nhiên không ai yêu cầu giải quyết.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Tòa án nhân dân huyện C ra Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự: Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án giữa người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phạm Thị Huyền T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T1 là đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy, qua xác minh Chấp hành viên huyện C xác định được ông Đặng Văn T1 là một trong những người con của bà Nguyễn Thị S, ông T1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 14/9/2023 của Chi cục THADS huyện C và Công văn số 194/UBND ngày 30/01/2024 của UBND xã N thể hiện bà S và ông Đặng Văn T2 (chết) có các con: Ông Đặng Văn T1 (hiện ở tù tại trại giam T5), ông Đặng Văn Đ (chết, vợ là bà Trần Thị N), bà Đặng Thị T3 (chết), bà Đặng Thị M, ông Đặng Văn P. Tuy nhiên, Chấp hành viên huyện C chưa cung cấp được địa chỉ của bà Đặng Thị M, ông Đặng Văn P, bà Trần Thị N và không cung cấp được văn bản thỏa thuận phân chia di sản quyền sử dụng đất của bà S và ông T2. Do đó, không có cơ sở xác định quyền sử dụng đất 3.349m² thuộc thửa 47, 48, 49 tờ bản đồ số 02, bộ địa chính xã N, huyện C theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S178875, số vào số cấp Giấy chứng nhận số 26 QSDĐ/ĐG do ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 04/1/2001 là khối tài sản chung của những người thừa kế của bà S (trong đó có ông Đặng Văn T1).
Nhận thấy, Tòa án nhân dân huyện C căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ban hành Quyết định đình chỉ số 594/2024/QĐST-DS ngày 21/8/2024 là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Huyền T, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 594/2024/QÐST-DS ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT THẤY:
Về thời hạn kháng cáo: Ngày 21/8/2024 Tòa án nhân dân huyện C ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 594/2024/QÐST-DS; Ngày 05/9/2024, bà Phạm Thị Huyền T nộp đơn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự trên. Như vậy kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được chấp nhận.
Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Huyền T, Hội đồng phúc thẩm thấy rằng:
Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang thi hành bản án hình sự phúc thẩm số 807/2020/HS-PT ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 259/2020/HSST ngày 21/7/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó ông Đặng Văn T1 có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền 3.000.000.000 đồng, lãi suất phát sinh do chậm thi hành án và thi hành án phí số tiền 45.000.000 đồng.
Quá trình tổ chức thi hành án, qua xác minh biết được ông Đặng Văn T1 là con của bà Nguyễn Thị S đã chết ngày 06/7/2007. Theo thông tin Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H chi nhánh huyện C cung cấp thì bà S có quyền sử dụng đất 3.349m² thuộc thửa 47, 48, 49 tờ bản đồ số 2, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 178875, số vào sổ cấp GCN: 26 QSDĐ/ĐG, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị S ngày 04/01/2001.
Ngày 28/3/2023, Chấp hành viên đã ban hành thông báo số 441/CCTHADS về việc xác định phân chia tài sản chung để thi hành án. Chấp hành viên đã tống đạt cho ông Đặng Văn T1, bà Đặng Thị T3, ông Đặng Văn P. Tuy nhiên, chấp hành viên không xác định được những người thừa kế của bà Nguyễn Thị S, nên đã đăng báo và niêm yết theo đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, đã hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày niêm yết, đăng báo nhưng những người sở hữu chung đối với khối tài sản nêu trên không thỏa thuận được và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình thi hành án cho đến nay, chấp hành viên huyện C xác định được ông Đặng Văn T1 là một trong những người con của bà Nguyễn Thị S, ông T1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án huyện C và Công văn số 194/UBND ngày 30/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã N thể hiện bà S và ông Đặng Văn T2 (chết) có các con: Ông Đặng Văn T1 (hiện ở tù tại trại giam T5), ông Đặng Văn Đ (chết, vợ là bà Trần Thị N), bà Đặng Thị T3 (chết), bà Đặng Thị M, ông Đặng Văn P. Tuy nhiên, Chấp hành viên huyện C chưa cung cấp được địa chỉ của bà Đặng Thị M, ông Đặng Văn P, bà Trần Thị N và không cung cấp được văn bản thỏa thuận phân chia di sản quyền sử dụng đất của bà S và ông T2. Do đó, không có cơ sở xác định quyền sử dụng đất 3.349m² thuộc thửa 47, 48, 49 tờ bản đồ số 02, bộ địa chính xã N, huyện C theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 178875, số vào số cấp Giấy chứng nhận số 26 QSDĐ/ĐG do ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 04/1/2001 là khối tài sản chung của những người thừa kế của bà S (trong đó có ông Đặng Văn T1).
Do đó, Tòa án nhân dân huyện C căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ra Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự thụ lý số 211/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án” là đúng quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên Quyết định đình chỉ trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Từ các phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 594/2024/QĐST-DS ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự không phải nộp lệ phí phúc thẩm.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Huyền T.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 594/2024/QÐST-DS ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số 211/2024/QÐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án” giữa:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Huyền T, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Đường P, khu phố G, thị trấn C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1959;
- Bà Nguyễn Thị H
Địa chỉ: Tổ G, ấp Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số D đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc dân sự này theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Lệ phí dân sự phúc thẩm: Người yêu cầu không phải nộp.
- Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Thảo |
HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP |
|
|
Nguyễn Thị Thanh Hiền |
Đỗ Thị H1 |
Phạm Thị T4 |
Quyết định số 1002/2024/QĐ - PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án
- Số quyết định: 1002/2024/QĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 594/2024/QĐST-DS ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
