|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-5-2024 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng
Ông Trương Hồng Thắm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Ông
Dương Xuân Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1982 (vắng mặt có lý do).
- - Bị đơn: Ông Phan Văn B, sinh năm 1983.
- Cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 11 năm 2023, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị P trình bày:
Bà Đặng Thị P và ông Phan Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 02 tháng 02 năm 2004. Trong thời gian chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên đến cuối năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B thường xuyên uống rượu, chơi bời, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng không còn hợp nhau, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, ông B còn có người phụ nữ khác bên ngoài, bà P đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông B không sửa đổi. Nay bà P xác định tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, từ lâu không còn ai quan tâm đến ai, bà P và ông B đã sống ly thân với nhau từ năm cuối năm 2020 cho đến nay. Do đó, bà P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết được ly hôn với ông B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà P và ông B có 03 người con chung là Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005, Phan Anh T1, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2008 và Phan Trọng Anh T2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2014. Sau khi ly hôn, bà P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là Phan Trọng Anh T2 và đồng ý giao cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Anh T1 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đối với người con chung là Phan Thu T đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai đề ngày 26 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Văn B trình bày:
Ông B và bà P kết hôn với nhau từ năm 2004, Quá trình chung sồng với nhau vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian về sau giữa ông B và bà P xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B mắc phải một số sai lầm với bà P và ông B cũng cố gắng sửa chữa để vun vén cho gia đình và cũng mong bà P bỏ qua để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy các con chung trưởng thành nhưng bà P không đồng ý. Cho nên, trường hợp bà P vẫn yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý.
Về con chung trong thời sống chung giữa ông B và bà P có 03 người con chung là Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005, Phan Anh T1, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2008 và Phan Trọng Anh T2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2014, sau khi ly hôn thì ông B có trách nhiệm với các con nếu như nguyện vọng của các con muốn chung sống với ai thì do các con tự lựa chọn. Đối với con chung Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005 đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: Ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn xin trình bày nguyện vọng đề ngày 16 tháng 4 năm 2024 cháu Phan Anh T1 trình bày:
Hiện nay cháu 16 tuổi và cháu đang học lớp 10A6 tại Trường Trung học phổ thông Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, cháu có biết việc bố mẹ yêu cầu giải quyết việc ly hôn với nhau tại Tòa án, trước đây bố mẹ chung sống với nhau rất hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2014 cho đến nay thì bố mẹ luôn xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và dẫn đến ly hôn, hiện nay cháu đang sống cùng với bố. Nay bố mẹ yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở cùng với bố vì hiện nay cháu đang học tại Trường trung học phổ thông Đ, còn mẹ đã về tỉnh Thái Nguyên để nuôi em cháu. Việc cháu có nguyện vọng được sống cùng với bố là do hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc gì.
Tại đơn xin trình bày nguyện vọng đề ngày 16 tháng 4 năm 2024 cháu Phan Trọng Anh T2 trình bày:
Cháu là con ruột của ông B và bà P, hiện nay cháu 10 tuổi, đang ở với mẹ và đi học lớp 4C tại trường tiểu học Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay do bố mẹ cháu không tìm được tiếng nói chung nên xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi vã và đang giải quyết ly hôn với nhau, do vậy sau khi bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, việc chọn ở với mẹ là do cháu tự nguyện không có ai ép buộc gì.
Ý kiến của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Đặng Thị P.
Về con chung: Giao con chung là Phan Trọng Anh T2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2014 cho bà Đặng Thị P, giao con chung là Phan Anh T1, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2008 cho ông Phan Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Đối với con chung là Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005 đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” do bà Đặng Thị P đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Phan Văn B cư trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, Mặc dù ông có nộp Bản tự khai và sau đó vắng mặt. Cho nên, được xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.
[2] Phân tích nội dung tranh chấp:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà P cho thấy, bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 02 tháng 02 năm 2004. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian chung sống vợ chồng ông bà hạnh phúc, tuy nhiên đến cuối năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Quá trình thu thập chứng cứ bà P có đơn xin giải quyết vắng mặt và trình bày tại Biên bản lấy lời khai là bà đã cố gắng hòa giải với ông B nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay bà P xác định nay không còn tình cảm với ông B và đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2020. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.
[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà P và ông B có 03 người con chung là Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005, Phan Anh T1, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2008 và Phan Trọng Anh T2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2014. Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai của bà P có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Phan Trọng Anh T2 và đồng ý giao ông B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Anh T1 cho đến khi trưởng thành. Về phía cháu T2 cũng có đơn trình bày và nguyện vọng được ở với bà P và cháu T1 cũng có đơn xin trình bày nguyện vọng được ở với ông B. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu, nghĩ cần thiết phải giao người con chung là Phan Trọng Anh T2 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Phan Anh T1 cho ông B nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với cháu Phan Thu T đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà P phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P về việc tranh chấp “Ly hôn”
- Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P được ly hôn với ông Phan Văn B.
Về con chung: Giao người con chung là Phan Trọng Anh T2, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2014 cho bà Đặng Thị P, giao con chung Phan Anh T1, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2008 cho ông Phan Văn B tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đối với cháu Phan Thu T, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2005 đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị P phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008011 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN VĂN PHÚ VINH |
5
6
Quyết định số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn
- Số quyết định: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Phượng về tranh chấp "Ly hôn"
