Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

Bản án số:10/2024/DS-ST

Ngày: 06 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông: Bùi Đăng Thảnh
    • Bà: Hà Thị Hòa
  • Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự;

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng N (A)
  • Địa chỉ: Số B L, quận B, thành phố Hà Nội
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc A
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thanh M – Phó Giám đốc phụ trách A chi nhánh huyện N theo giấy ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc A ủy quyền.
  • Người được ủy quyền lại: Ông Lê Minh C - Phó Giám đốc phụ trách A chi nhánh huyện N, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy ủy quyền số: 350/NHNo-NL-UQ ngày 27/02/2024.
  • Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị V1 - Sinh năm: 1971
  • Địa chỉ: Khu phố Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T - Sinh năm 1974.
  • Địa chỉ: Khu phố Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt đại diện Ngân hàng N ông Lê Minh C, vắng mặt bị đơn bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T. Bà V1, ông T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Lê Minh C trình bày:

Ngày 15/10/2018 bà B Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T (ông Phạm Văn Thành ủy Q cho bà Phạm Thị V1 thay mặt ông thực hiện các giao dịch với Ngân hàng N, theo hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2018), đã gửi phương án sử dụng vốn phục vụ nhu cầu đời sống đến Ngân hàng N - Chi nhánh N xin vay số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Ngân hàng thẩm định khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn theo quy định và đồng ý cho vay. Hợp đồng tín dụng số:3510LAV-201806182 ngày 19/10/2018, phương thức vay vốn từng lần số tiền cho vay 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), thời hạn vay 60 tháng, trả góp hàng tháng, lãi suất cho vay bên Ngân hàng và bên vay thỏa thuận, lãi suất theo hợp đồng tín dụng.

Bên vay không có tài sản để đảm bảo khoản vay.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên đến ngày 26/11/2019 bà V1 đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, không chấp hành việc trả nợ gốc, lãi định kỳ hàng tháng cho Ngân hàng, sau nhiều lần đôn đốc việc trả nợ nhưng bà V1 cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn do bà Phạm Thị Văn vi P nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo định kỳ.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Buộc bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 06/8/2024 là: 171.102.072đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu, một trăm lẻ hai nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) trong đó:
    • + Nợ gốc: 148.811.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm mười một nghìn đồng)
    • + Nợ lãi: 22.291.072đ (Hai mươi hai triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng)
  • - Yêu cầu bên vay phải thanh toán tiền lãi theo hợp đồng cho đến ngày bên vay tất toán xong khoản nợ. Thời gian thực hiện trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bà Phạm Thị Văn Ô Phạm Văn T để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, chi nhánh N nhưng bà V1 và ông T không có mặt nên

không có lời khai của bà V1 và ông T và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

* Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng N, chi nhánh N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện mà không sửa đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng quy định của pháp luật. Việc bà V1 và ông T không có mặt tại địa phương, không thông báo cho chính quyền địa phương và phía nguyên đơn biết nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với nguyên đơn, việc Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng N và bà V1 ông T đang tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” do bà V1 ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là bà Phạm Thị V1 có địa chỉ tại Khu phố Q, thị trấn N, huyện N, Thanh Hóa. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình giải quyết vụ án do bà Phạm Thị V1 thường xuyên không có mặt tại địa phương nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nguyên đơn, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, cho bà V1 biết để thực hiện quyền mình theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T đều vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt bà V1 ông T và đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bà V1 ông T đến phiên hoà giải nhưng bà V1, ông T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ bà V1 ông T lần thứ hai đến để tham gia phiên toà nhưng bà V1 và ông T vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bà V1 và ông T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số: 3510LAV-201806182 ngày 19/10/2018 ký kết giữa bà Phạm Thị V1 và Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng được quy định tại các Điều 116, 117, 119, 463 của Bộ luật dân sự 2015 nên hợp đồng trên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho bà Phạm Thị V1 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Tuy nhiên, bà Phạm Thị V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã cam kết. Kể từ thời điểm Ngân hàng giải ngân cho đến ngày 26/11/2019 bà V1 đã không thực hiện trả gốc cho Ngân hàng, như vậy bà V1 đã vi phạm nghĩa vụ như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc Ngân hàng làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 06 tháng 8 năm 2024 là 171.102.072đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu một trăm lẻ hai nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc: 148.811.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm mười một nghìn đồng): Nợ lãi: 22.291.072đ (Hai mươi hai triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/8/2024 đến khi trả hết nợ là có cơ sở, là phù hợp theo quy định tại khoản 2, Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về mức lãi suất mà phía bị đơn bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N được tính kể từ ngày tiếp theo, ngày tuyên án sơ thẩm trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/8/2024), bà Phạm thị V1 và ông Phạm Văn T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 3510LAV-201806182 ngày 19/10/2018.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35 147; Khoản 1 Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 116, 117, 119, Điều 351, 357, Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng; Luật số 32/2024/QH 15 ngày 18 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  2. Buộc bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền là: 171.102.072đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu một trăm lẻ hai nghìn không trăm bảy mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc: 148.811.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm mười một nghìn đồng). Nợ lãi: 22.291.072đ (Hai mươi hai triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng)
    Kể từ ngày 07/8/2024, bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 3510LAV-201806182 ngày 19/10/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
  3. Về án phí: Bà Phạm Thị V1 và ông Phạm Văn T phải chịu 8.555.103₫ (Tám triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn, một trăm lẻ ba đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền là 4.157.670đ (Bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi đồng) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004212 ngày 28/02/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Hòa

Bùi Đăng Thảnh

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 10/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số quyết định: 10/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger