|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Quyết định số: 10/2025/HS-GĐT Ngày 25 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: 09 (chín) thành viên tham gia xét xử, do ông Nguyễn Xuân Thiện, Phó Chánh án làm Chủ tọa phiên tòa, theo sự ủy nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Mạnh - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
- Phan Hoàng H (tên gọi khác: Hưng N), sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú tại số A đường C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc T, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1963; tiền án: ngày 17/12/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; ngày 20/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: ngày 04/4/2018, bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; nhân thân: ngày 25/8/2009, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2020.
- Đàm Sĩ H1, sinh năm 1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; cư trú tại khu dân cư A, thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 09/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đàm Văn P, sinh năm 1964 và bà Hồ Thị P1, sinh năm 1968; có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/4/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”; ngày 31/5/2019, bị Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ; bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2022.
- Trương Đan T1 (tên gọi khác: S), sinh năm 1981 tại tỉnh Quảng Ngãi; cư trú tại số B đường C, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Trương Quang T2, sinh năm 1957 và bà Dương Thị H2, sinh năm 1954; có chồng và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/12/2020; ngày 16/7/2021, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh.
- C, sinh năm 1997 tại thành phố Đà Nẵng; cư trú tại tổ A, phường Q, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Châu Văn T3, sinh năm 1972 và bà Phan Thị Thanh N1, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam ngày 14/01/2021; ngày 14/01/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Lưu Hoài A, sinh năm 1990 tại tỉnh Sóc Trăng; cư trú tại số E đường B, tổ B, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lưu Văn V, sinh năm 1962 và bà Huỳnh Thị S1, sinh năm 1965; có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/5/2021; ngày 28/01/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tháng 02/2020, chị Trần Thị Kiều D1 có hợp đồng mua nước rửa tay của chị Ao Thị Thu T4; chị D1 và chị T4 thỏa thuận chị D1 đặt cọc số tiền 660.000.000 đồng để mua hàng. Quá trình mua bán, chị D1 mới lấy số hàng tương đương số tiền 350.000.000 đồng để bán, số hàng còn lại do không bán được nên chị D1 xin chị T4 cho lấy lại số tiền đặt cọc còn lại hoặc đổi sang sản phẩm khác nhưng không được chị T4 đồng ý.
Ngày 01/12/2020, chị D1 cùng chồng là Lưu Hoài A tham gia chương trình giới thiệu sản phẩm mỹ phẩm, gặp và kể cho Phan Hoàng H và Đào L nghe việc nợ tiền hàng giữa chị D1 và chị T4 thì Đ và H nói có thể giúp vợ chồng chị D1 đòi lại tiền vì có quen biết chị T4 và bạn của chị T4 là anh Ngô Quốc T5.
Ngày 02/12/2020, H rủ Châu Á và Đàm Sĩ H1 đến gặp chị D1 và Lưu Hoài A, thống nhất nếu đòi được tiền thì nhóm của H sẽ được hưởng 50% số tiền lấy được. H về kể lại sự việc tiền hàng của chị D1 và chị T4 cho Trương Đan T1 biết và nhờ T1 can thiệp để đòi tiền vì T1 có quen biết chị T4 từ trước thì được T1 đồng ý. Do H biết anh T5 đang kinh doanh quán H4 ở thành phố D nên gọi điện thoại cho anh T5 và tự xưng là anh trai của chị D1 yêu cầu chị T4 và anh T5 trả nợ cho chị D1, nếu không trả thì ngay trong tối (ngày 04/12/2020) sẽ đến xử lý anh T5 và chị T4. Anh T5 không đồng ý và yêu cầu gặp nhau giải quyết.
Khoảng 19 giờ ngày 04/12/2020, H rủ C, Đàm Sĩ H1 và nhiều người (chưa xác định được nhân thân) tập trung tại nhà Trương Đan T1 để tính toán phương án đòi tiền. T1 hướng dẫn nhóm của H đến quán H4, chia ra mỗi bàn chỉ ngồi 02 người, chỉ kêu bia và mì xào để ăn uống nhằm gây áp lực để chị T4 và anh T5 buộc phải trả tiền cho chị D1. T1 cho mượn 02 chiếc xe ô tô để H cùng đồng phạm sử dụng làm phương tiện đi đến quán H4 và đưa cho H 30.000.000 đồng để tiêu xài. Sau đó, cả nhóm điều khiển xe ô tô đến quán H4. Trên đường đi, Đàm Sĩ H1 đón Lưu Hoài A tại phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đi cùng để Lưu Hoài A dẫn đường cho nhóm của H đến quán H4. H1 nói với Lưu Hoài A đi đông người xuống quán H4 tạo áp lực cho quán, làm chị T4 sợ thì mới đòi được tiền.
Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi anh T5 và chị T4 cùng người thân đang ăn uống tại phòng Vip 2 của quán thì H cùng C, Đàm Sĩ H1, Lưu Hoài A, H3 và một số đối tượng khác đến quán, chia nhau ra ngồi ở các bàn trong quán và kêu bia ra uống. Khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, anh Nguyễn Ngọc Đ1 và anh Võ Hoàng M là bạn của anh T5, chị T4 đến quán ăn uống. Khi anh Đ1 và anh M vừa vào cổng quán thì xảy ra mâu thuẫn với H nên bị H, C, H1 cùng đồng phạm cầm ly, chai bia, chén, đĩa, ghế có tại quán ném về phía anh Đ1 và anh M. Bị đánh nên anh Đ1 và anh M chạy ra ngoài đường, chạy được khoảng 100 mét thì anh Đ1 vấp ngã nên bị nhóm của H vây lại đánh khoảng 01 phút rồi cả nhóm của H lên xe tẩu thoát. Quá trình H, H1, C cùng đồng phạm đến quán và sau khi đánh nhau, T1 và H, H1, C vẫn tương tác với nhau qua ứng dụng Zalo. Sau khi nhóm của H bỏ đi thì chị T4 tiếp tục nhận được điện thoại của H “Tao đập quán mày rồi, mày có tin tao đập nhà, công ty mày luôn không” rồi tắt máy. Sau đó, anh T5 và chị T4 đến Công an thành phố D trình báo sự việc.
Tài sản của quán H4 bị thiệt hại gồm: 20 chiếc ly uống bia bằng thủy tinh, 05 chiếc chén ăn cơm, 48 chai bia Tiger, 04 ghế khung bằng sắt mặt gỗ, 01 bình hoa, 15 chiếc đĩa lót chén.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 63 ngày 25/4/2021, Hội đồng định giá thành phố D xác định: 20 chiếc ly uống bia bằng thủy tinh trị giá 300.000 đồng; 05 chiếc chén ăn cơm trị giá 60.000 đồng; 48 chai bia Tiger trị giá 720.000 đồng; 01 bình hoa bằng sành trị giá 500.000 đồng; 15 chiếc đĩa lót chén bằng sành trị giá 150.000 đồng; trị giá thiệt hại là 1.730.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 111 ngày 05/7/2021, Hội đồng định giá thành phố D xác định: chi phí sửa chữa ghế khung sắt có lưng dựa và đế ngồi bằng gỗ là 50.000 đồng/chiếc; trị giá thiệt hại sửa chữa là 200.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.930.000 đồng.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 604/2020/GÐPY ngày 08/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với thương tích của anh Nguyễn Ngọc Đ1 xác định tại thời điểm giám định tổng tỷ lệ thương tích là 06%. Tuy nhiên, anh Đ1 rút đơn yêu cầu khởi tố và không truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2022/HS-ST ngày 31/8/2022, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương quyết định:
- - Tuyên bố các bị cáo Phan Hoàng H, Đàm Sĩ H1, Trương Đan T1, C, Lưu Hoài A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Căn cứ các điểm b, e khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Hoàng H 03 năm tù.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đàm Sĩ H1 02 năm 06 tháng tù.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 10/5/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt Trương Đan T1 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt C 02 năm tù.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Hoài A 01 năm 08 tháng tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 57/QĐ-VKSBD ngày 29/9/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 66/2023/HS-PT ngày 22/5/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định: không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 57/QĐ-VKSBD ngày 29/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 129/QĐ-VC3-V1 ngày 17/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 66/2023/HS-PT ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để điều tra lại.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng bản chất hành vi của Phan Hoàng H, Đàm Sĩ H1, Trương Đan T1, C là đòi nợ thuê; sau khi thực hiện hành vi đập phá tài sản và gây thương tích cho khách hàng của quán thì H tiếp tục gọi điện thoại cho chị T4 gây áp lực, uy hiếp tinh thần nhằm buộc anh T5, chị T4 trả tiền; chuỗi hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn đầy đủ hành vi khách quan của tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tòa án hai cấp xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là không đúng bản chất của vụ án, không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.
Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện do phát sinh từ việc mua bán hàng hóa mỹ phẩm và nước rửa tay giữa chị Trần Thị Kiều D1 với chị Ao Thị Thu T4 nên chị D1 và Lưu Hoài A nhờ Phan Hoàng H đòi tiền chị T4. Để thực hiện việc đòi tiền, H gọi điện thoại cho anh T5 yêu cầu anh T5 và chị T4 trả nợ cho chị D1, nhưng anh T5 không đồng ý và yêu cầu phải gặp nhau nói rõ việc nợ tiền gì, bao nhiêu, có giấy tờ gì không (số tiền làm ăn giữa chị T4 và chị D1 thực tế giữa hai bên cũng chưa chốt lại là chị T4 có phải trả cho chị D1 hay không và trả bao nhiêu tiền). Theo bàn bạc từ trước với Trương Đan T1 nên H, H1, C dẫn những người khác đến quán H4, chia ra mỗi bàn ngồi 02 người, chỉ gọi bia và mì xào để ăn uống nhằm gây áp lực cho chị T4, anh T5 để chị T4, anh T5 phải gặp nhóm của H nói chuyện về việc trả tiền cho chị D1. Khi đến quán H4 thì nhóm của H ngồi vào một số bàn, gọi đồ ăn và ngồi ăn bình thường, chưa có hành vi gì gây khó khăn cho quán (lúc này, trong quán cũng đang có nhiều khách đến ăn). Do H có việc quay ra bãi xe lấy đồ, khi quay lại vừa đến cổng quán thì gặp anh Nguyễn Ngọc Đ1 và anh Võ Hoàng M bên ngoài đi vào ngay trước cổng quán; anh Đ1 thấy H quen nên gọi: “Ê, Hưng N phải không?”. Nhìn thấy thái độ của anh Đ1 nên H tưởng anh T5, chị T4 kêu người đến đánh nhóm H nên giữa H với anh Đ1 và anh M xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau ngay trước cổng quán; những người khác đi cùng H đang ngồi ăn bên trong quán thấy H với anh M và anh Đ1 xảy ra xô xát ngoài cổng quán thì cũng xông ra dùng ly, chén, ghế... ném, đánh anh Đ1, anh M và rượt đuổi đánh gây thương tích cho anh Đ1 và anh M. Do đó, có căn cứ xác định hành vi xô xát, đánh nhau, làm hư hỏng tài sản là hành vi bột phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa H với anh Đ1 và anh M, không nhằm mục đích đánh khách của quán vì tại thời điểm đó quán có nhiều khách khác cũng đang ngồi ăn nhưng nhóm của H không hề gây sự gì với họ; việc gây sự, đánh nhau, gây mất trật tự tại quán không nằm trong ý thức gây áp lực, uy hiếp tinh thần nhằm buộc anh T5, chị T4 trả tiền. Mặt khác, nội dung H gọi điện thoại nói với chị T4 “Tao đập quán mày rồi, mày có tin tao đập nhà, công ty mày luôn không” (bút lục 283) cũng không đủ cơ sở kết luận đây là hành vi cưỡng đoạt tài sản vì mục đích nhóm H đến quán H4 là để gặp anh T5, chị T4 nói chuyện về số nợ theo đề nghị của anh T5; khi chưa gặp được anh T5, chị T4 thì đã xảy ra xô xát với người khác ở ngoài cổng quán; nhóm H chưa có hành vi gì ép buộc anh T5, chị T4 phải trả số tiền cụ thể là bao nhiêu. Hành vi nhiều người đánh, ném nhau bằng ghế, ly, chén..... trước cổng quán, chửi bới, rượt đuổi nhau trên đường phố gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Phan Hoàng H, Đàm Sĩ H1, Trương Đan T1, C và Lưu Hoài A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm nhận định hành vi đập phá tài sản, với tổng giá trị thiệt hại 1.930.000 đồng của H và đồng phạm được thu hút vào tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là không có cơ sở, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án.
Xét thấy, Phan Hoàng H và đồng phạm đã có hành vi gây rối trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; thiệt hại về tài sản do hành vi phá phách của H và đồng phạm gây ra với tổng giá trị thiệt hại là 1.930.000 đồng không đủ định lượng để cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự nếu không có tình tiết “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Trong vụ án này, chuỗi hành vi nhiều người đánh, ném nhau bằng ghế, ly, chén... trước cổng quán; chửi bới, rượt đuổi nhau trên đường phố đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, là dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án H và đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng” với nhận định hành vi đập phá làm hư hỏng tài sản được thu hút vào tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Từ những nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 382; khoản 1 Điều 388; Điều 389 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 129/QĐ-VC3-V1 ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giữ nguyên Bản án hình sự phúc thẩm số 66/2023/HS-PT ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN PHÓ CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
7
Quyết định số 10/2025/HS-GĐT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giám đốc thẩm)
- Số quyết định: 10/2025/HS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giám đốc thẩm)
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 382; khoản 1 Điều 388; Điều 389 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự; 1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 129/QĐ-VC3-V1 ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Giữ nguyên Bản án hình sự phúc thẩm số 66/2023/HS-PT ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. 3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
