Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2025

V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Dũng

Bà Nguyễn Thị Nguyệt

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Lê Phương - Chức danh: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Triệu Thị P, sinh năm 1997/ có mặt.

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Dương Tiến K, sinh năm 1992/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 3, Trại giam T, Cục C, Bộ C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Triệu Thị P trình bày: Chị và anh Dương Tiến K kết hôn với nhau ngày 28/3/2016, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn, hai anh chị được tìm hiểu nhau trong thời gian ngắn, được tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, hai anh chị về chung sống với cùng với gia đình anh K ở xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu, hai anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Sau đó chị nghi ngờ anh K có quan hệ với người phụ nữ khác, từ đó mâu thuẫn nảy sinh. Chị và anh K đã nói chuyện với nhau nhiều lần, chị cũng đã khuyên bảo anh K nhưng anh K vẫn không thay đổi, thậm chí anh K còn chửi mắng và đánh chị. Mâu thuẫn trầm trọng khiến vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng

với nhau nữa nên chị đã chuyển hộ khẩu về ở cùng với bố mẹ đẻ ở xóm T, xã T, huyện V. Về phía anh K, do không có công việc ổn định, không tu chí làm ăn nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị Toà án xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, hiện đang đi chấp hành án tại Trại giam T. Đến nay chị xác định đã hết tình cảm vợ chồng với anh K nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015, hiện con đang ở với chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/3/2025 tại Phân trại số C, Trại giam T, anh Dương Tiến K trình bày: Anh và chị Triệu Thị P kết hôn với nhau tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh nhiều lần phạm tội và phải đi chấp hành án trong thời gian dài. Anh và chị P sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, vợ chồng mỗi người một nơi, bỏ mặc nhau, không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị P làm đơn xin ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị P vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài.

Về con chung: Anh và chị P có 01 con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không thể cấp dưỡng nuôi con vì anh không có thu nhập và đang phải chấp hành án.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Do anh K đang chấp hành án, không đến Tòa án để làm việc được nên anh K đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ phát biểu quan điểm đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn”, căn cứ Điều 28, 35, 39 BLTTDS Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Không có vi phạm, không có đề xuất hay kiến nghị gì.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị P. Cho chị Triệu Thị P được ly hôn anh Dương Tiến K.
  • - Về con chung: Đề nghị giao con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015 cho chị Triệu Thị P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Dương Tiến K có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
  • Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Do anh K đang đi chấp hành án tại Trại giam T, do đó Toà án không tiến hành hoà giải được, xong hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình về việc yêu cầu xin ly hôn giữa nguyên đơn là chị Triệu Thị P và bị đơn là anh Dương Tiến K (anh K có nơi cư trú ở xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

- Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn là anh Dương Tiến K hiện đang chấp hành án. Quá trình giải quyết, Tòa án đã ghi đầy đủ lời khai của anh K, anh K đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Dương Tiến K.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị P thấy rằng:

[2.1]: Chị Triệu Thị P và anh Dương Tiến K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2.2]: Lý do chị Triệu Thị P xin ly hôn với anh Dương Tiến K là do chị nghi ngờ anh có quan hệ với người phụ nữ khác, dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Anh K không chịu tu chí làm ăn, không vun vén chăm lo cho gia đình mà còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Anh K cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh mải chơi, chưa quan tâm, chăm lo cho gia đình, vợ con. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay chị P tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị P và anh K đã xảy ra trong thời gian dài, vợ chồng không còn tình cảm và không thương yêu, quý trọng, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh K đã ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung

vợ chồng không tồn tại nên chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P được ly hôn với anh K là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3]: Về con chung: Chị P và anh K có 01 con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015. Xét điều kiện của chị P và anh K, anh K đang phải chấp hành án, còn chị P đang trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có thu nhập, con chung có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do vậy, cần giao cho chị P trực tiếp nuôi cháu Dương Thị Q là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh K không trực tiếp nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[2.4]: Về tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh K xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5]: Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Triệu Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

[2.6]: Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[3] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 235, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị P. Cho chị Triệu Thị P được ly hôn anh Dương Tiến K.
  2. Về con chung: Giao cho chị Triệu Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015, cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Dương Tiến K có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét giải quyết.
    • - Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Triệu Thị P phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ khấu vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007420 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn là chị Triệu Thị P biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh Dương Tiến K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS Đ;
  • - UBND xã T, T;
  • - Lưu HSVA, VP, TP, TK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp về ly hôn

  • Số quyết định: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị P. Cho chị Triệu Thị P được ly hôn anh Dương Tiến K. 2. Về con chung: Giao cho chị Triệu Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Dương Thị Q, sinh ngày 05/4/2015, cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Dương Tiến K có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger