|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Số: 10/2021/QĐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Tĩnh, ngày 02 tháng 3 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Đào - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Trần Vinh Hiển – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 107/2020/TLST-HNGĐ ngày 31/12/2020 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 15/2021/QĐ-TA ngày 19 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:
- - Người yêu cầu thứ nhất: Anh Lê Đình T, sinh ngày: 14/02/1984, HKTT: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
- - Người yêu cầu thứ hai: Chị Bùi Thị D, sinh ngày: 10/6/1995, HKTT: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan, đề nghị giải quyết vắng mặt.
- - Người tham gia tố tụng khác:
- + Người được ủy quyền giao nhận tài liệu của anh Lê Đình T: Chị Lê Thị Thủy, địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh;
- + Người được ủy quyền giao nhận tài liệu của chị Bùi Thị D: Bà Lê Thị S, sinh năm: 1973, địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt;
- + Quỹ tín dụng nhân dân Giang – Đồng – Tiến, địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo yêu cầu giải quyết việc ly hôn của anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D, cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc dân sự có nội dung:
Anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tình yêu và tự nguyện; thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Kỳ Phú, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo Sổ đăng ký số 61/2010 quyển số 01/2013, ngày 30/5/2014. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và đã sinh được 01 người con là Lê Nhật T, sinh ngày: 04/12/2014. Một năm sau đó, chị D cùng con trai bỏ về nhà bố mẹ đẻ; anh T cũng đi làm việc xa nhà. Từ năm 2015, hai vợ chồng sống ly thân. Đến năm 2017, chị D đi lao động tại Đài Loan. Từ đó, hai vợ chồng không liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau, mỗi người tự chăm lo cho cuộc sống riêng của bản thân.
Đến nay, hai vợ chồng cùng xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, hàn gắn nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Nhật T, sinh ngày: 04/12/2014. Hiện đang được chị Bùi Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai vợ chồng thống nhất giao cho chị Bùi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian chị D lao động tại Đài Loan, thống nhất giao con chung cho bà Lê Thị S là mẹ đẻ chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Mức cấp dưỡng hai vợ chồng tự thỏa thuận là 1.800.000 đồng/01 tháng (tiền cấp dưỡng nuôi con được gửi cho bà Lê Thị S).
* Về tài sản chung: Hai vợ chồng có 01 thửa đất tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hai vợ chồng tự thỏa thuận giao lại thửa đất này cho con trai Lê Nhật T; giao chị Bùi Thị D quản lý tài sản trên đến khi con chung đủ tuổi quản lý tài sản theo quy định.
* Về nợ chung: Vợ chồng có 02 khoản nợ chung là nợ Quỹ tín dụng nhân dân Giang – Đồng – Tiến số tiền 90 triệu đồng; nợ bà Lê Thị S (mẹ chị D) số tiền 80 triệu đồng. Hai vợ chồng thỏa thuận tiền nợ tại Quỹ tín dụng nhân dân Giang – Đồng – Tiến anh T có trách nhiệm thanh toán; số tiền nợ bà S chị D có trách nhiệm thanh toán.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của các đương sự: Công nhận anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D thuận tình ly hôn; công nhận sự thỏa thuận nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung giữa hai vợ chồng; về tài sản chung, nợ chung đương sự đã thống nhất đề nghị Tòa án ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; Hội đồng giải quyết việc dân sự nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D đều đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết vắng mặt các đương sự. Chị Bùi Thị D hiện đang ở nước ngoài, đã ủy quyền cho bà Lê Thị S nhận các văn bản tố tụng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D là hợp pháp. Tuy nhiên, thực tế hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2015, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc các đương sự thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giao con chung Lê Nhật T cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị D đang ở nước ngoài nên tạm thời giao cho bà Lê Thị S (mẹ đẻ chị D) trực tiếp chăm sóc. Anh Lê Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.800.000 đồng/tháng.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao thửa đất tại xã K cho con trai Lê Nhật T và phân định trách nhiệm trả nợ đối với Quỹ tín dụng và bà Lê Thị S.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 37, 227, 469, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, 55, 57, 58, 59, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Nhật T, sinh ngày: 04/12/2014 cho chị Bùi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị D lao động tại Đài Loan, giao con chung cho bà Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Đình T cấp dưỡng nuôi con chung 1.800.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Ghi nhận việc giao quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 57A, tờ bản đồ 26, địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Giấy CNQSD đất số CĐ 385413) cho con trai Lê Nhật T; chị Bùi Thị D quản lý tài sản cho đến khi con đủ tuổi.
- Về nợ chung: Anh Lê Đình T có trách nhiệm thanh toán khoản nợ tại Quỹ tín dụng nhân dân Giang – Đồng – Tiến (90 triệu đồng gốc + lãi). Chị Bùi Thị D có trách nhiệm thanh toán khoản nợ cho bà Lê Thị S (80 triệu đồng).
- Về án phí: Anh Lê Đình T tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí HNGĐST và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bích Đào |
Quyết định số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 10/2021/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Đình T và chị Bùi Thị D
