|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH Số: 09/QĐ-TA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bắc Ninh, ngày 10 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Tư Duy
- Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 29/10/2025 và Thông báo về việc hoãn phiên họp số 01/TB-TA ngày 05/11/2025, đối với:
Họ và tên: Vi Văn N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/9/1975; CCCD số: [...]; Ngày cấp: 12/9/2022; Nơi cấp: Cục C2 về trật tự xã hội, Bộ C3; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án: Tại Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Tiền sự: Không; Con ông: Vi Văn C và bà Trương Thị C1. Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lương Phúc L - Cán bộ Công an xã N, tỉnh Bắc Ninh (theo văn bản cử người tham gia phiên họp số 56/CV-CAX ngày 24/10/2025 của Công an xã N).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
- Đại diện gia đình người bị đề nghị:
Bà Trương Thị C1, sinh năm 1953, nơi thường trú: thôn Đ, xã N, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NHẬN THẤY:
Vi Văn N sử dụng ma túy từ khoảng năm 2002. Ngày 08/10/2025, Công an xã N tiến hành xét nghiệm, kết quả xác định Vi Văn N dương tính với ma tuý Heroin. Ngày 13/10/2025, Trạm y tế xã N xác định N nghiện ma tuý, loại Heroin. Ngày 13/10/2025, Công an xã N thông báo và yêu cầu N trong 05 ngày làm việc phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bằng thuốc thay thế. Ngày 13/10/2025, N nhận thông báo nhưng hết thời hạn trên không đăng ký. Công an xã N đã lập biên bản vi phạm và tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.
Ngày 24/10/2025, Công an xã N ban hành Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N với lý do hành vi của N đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với với Vi Văn N, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bắc Ninh số 2, thời hạn từ 12 đến 24 tháng.
Ý kiến đại diện gia đình người bị đề nghị: Nhất trí với đề nghị của Công an xã N.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ và quyết định mở phiên họp theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện đúng thời hạn xem xét, quyết định, áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Người bị đề nghị chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên họp không có lý do chính đáng. Đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Vi Văn N thời hạn từ 17 đến 20 tháng.
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã N, tỉnh Bắc Ninh lập, trên cơ sở xem xét toàn diện hồ sơ, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.
XÉT THẤY:
Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Xét thời hiệu áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N còn thời hiệu theo quy định; Đối tượng bị đề nghị, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự, thủ tục lập hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cơ bản đã bảo đảm đầy đủ và phù hợp về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao. Theo khoản 2 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 30 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Xét đề nghị của Trưởng Công an xã N: Vi Văn N là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 05 ngày làm việc N không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bằng thuốc thay thế theo quy định. Hành vi này vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh số 2 đối với Vi Văn N.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi vi phạm, N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vi Văn N là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích nhưng N không lấy đó làm bài học mà tiếp tục sử dụng ma tuý.
Xét đề nghị của Trưởng Công an xã N và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N là phù hợp, nhằm bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa và giúp N có điều kiện cai nghiện, sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;
Căn cứ vào Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, 2022, 2025;
Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 25, 30, 31, 32 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, được sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
Căn cứ vào Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N.
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Địa điểm chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Ninh số 2, địa chỉ: thôn K, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Bùi Tư Duy |
Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 10/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 09/QĐ-TA
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn N
