Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Ninh và bà Nguyễn Thị Thương

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Phong T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1986 tại xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Phong T1 và con bà Trần Thị T2 (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị T3 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Chị Hoàng Thị Bảo Y, sinh năm 2006; địa chỉ: Tổ dân phố I, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hoàng Minh H, sinh năm 1975; nghề nghiệp: Công nhân; địa chỉ: Đối diện số C, đường T, tổ dân phố I, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 2006; nghề nghiệp: không; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1973; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
  • - Người làm chứng: Ông Võ Doãn B, địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 03/7/2024, Nguyễn Phong T một mình điều khiển xe mô tô mang biển số: 73K1 - 5696 đi trên đường liên thôn từ thôn H, xã A, Quảng Ninh, Quảng Bình đến thôn T, xã A, Quảng Ninh, Quảng Bình. Đến khoảng 20 giờ 27 phút ngày 03/7/2024, T điều khiển xe mô tô đi ra đường T và rẽ trái để đi về nhà. Khi xe đi ra đường tỉnh lộ 564B 0,7m thì va chạm với xe mô tô mang biển số: 73V2 - 3117 do chị Nguyễn Thị Thu T4 (sinh năm 2006, chỗ ở: thôn T, xã A, Quảng Ninh, Quảng Bình) điều khiển chở theo sau chị Hoàng Thị Bảo Y (sinh năm 2006, chỗ ở: Tổ dân phố I, phường B, Đ, Quảng Bình) đang đi trên đường T theo hướng từ xã A đi xã T. Sau va chạm, xe mô tô do Nguyễn Phong T điều khiển di chuyển qua bên trái, sau đó dừng lại. Còn xe mô tô do chị T4 điều khiển ngã ra đường. Hậu quả: Chị Hoàng Thị Bảo Y bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V, đến ngày 05/9/2024 thì tử vong. Tại Bản kết luận giám định phương tiện số: 8721K. -43-15 ngày 05/8/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh Q kết luận:

  • - Dấu vết hằn trượt mất cao su màu đen kích thước (3,2 x 2,4) cm ở má bên trái lốp bánh xe phía trước xe mô tô biển số 73K1 - 5696 có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở cạnh phía trong bàn đạp chân phanh xe mô tô biển số 73V2-3117.
  • - Dấu vết trượt xước mất cao su màu đen kích thước (9 x 2)cm ở má bên trái lốp bánh xe phía trước xe mô tô biển số 73K1 - 5696 có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt trong chân phanh xe mô tô biển số 73V2-3117.

Đặc điểm các dấu vết nêu trên phù hợp tình huống má bên trái lốp bánh xe phía trước xe mô tô biển số 73K1 - 5696 va chạm với chân phanh xe mô tô biến số 73V2 - 3117 theo hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái so với trục dọc của xe mô tô biển số 73V2 -3117.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

Ngày 03/7/2024, Công an huyện Q ra Quyết định tạm giữ tang vật:

  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 73K1 - 5696, xe đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Phong T, có giá trị đến không thời hạn.
  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 73V2 - 3117
  • + 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 018945, tên chủ xe: Nguyễn Thị T5, biển số đăng ký: 73V2 -3117.
  • + 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Thu T4, có giá trị đến không thời hạn.

Ngày 05/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu sau đây cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị T5:

  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 73V2 - 3117
  • + 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 018945, tên chủ xe: Nguyễn Thị T5, biển số đăng ký: 73V2 -3117.

Ngày 10/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu Nguyễn Thị Thu T4: 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Thu T4, có giá trị đên không thời hạn.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/9/2024, Nguyễn Phong T đã hỗ trợ chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân Hoàng Thị Bảo Y tổng số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Gia đình nạn nhân đã nhận số tiền trên, đại diện gia đình là ông Hoàng Minh H đã viết đơn bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Phong T trong vụ tai nạn giao thông nói trên. Chị Nguyễn Thị Thu T4 sau vụ tai nạn giao thông chỉ bị xây xát ngoài da, không bị thương tích gì đáng kể. Chị T4 đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu bồi thường dân sự trong vụ tai nạn giao thông nói trên. Các bên cam kết sẽ không khiếu kiện, khiếu nại gì đối với vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 03/7/2024, tại Km11 đường tỉnh lộ 564B thuộc địa phận thôn H, A, Quảng Ninh, Quảng Bình.

Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phong T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tại phiên tòa phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phong T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda laoij Super cub mang biển số 73K1 – 5696. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Phong T, có giá trị không thời hạn.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận về bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Phong T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội lao động nuôi mẹ già, vợ và hai con nhỏ.

Đại diện gia đình bị hại là ông Hoàng Minh H không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp hơn mức mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị và cho bị cáo được hưởng án treo vì hoàn cảnh bị cáo còn nhiều khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy tại hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan Điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo và bồi thường dân sự. Căn cứ quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

[2] Xem xét hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Phong T đã khai nhận toàn bộ hành vi như sau: Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 03/7/2024, Nguyễn Phong T một mình điều khiển xe mô tô mang biển số: 73K1 - 5696 đi trên đường liên thôn từ thôn H, xã A, Quảng Ninh, Quảng Bình đến thôn T, xã A, Quảng Ninh, Quảng Bình để về nhà. Đến khoảng 20 giờ 27 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi ra đường tỉnh lộ 564B 0,7m thì va chạm với xe mô tô mang biển số: 73V2 - 3117 do chị Nguyễn Thị Thu T4 điều khiển chở theo sau chị Hoàng Thị Bảo Y đang đi trên đường T theo hướng từ xã A đi xã T. Hậu quả: Chị Hoàng Thị Bảo Y bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V, đến ngày 05/9/2024 thì tử vong.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như phù hợp với Kết luận số 8721K-43-15 ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q đã giám định 02 phương tiện xe mô tô do chị Nguyễn Thị Thu T4 và phương tiện mô tô do bị cáo Nguyễn Phong T điều khiển.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Phong T là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự. Bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển số: 73K1 - 5696 trong tình trạng có sử dụng rượu bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (21.5 mmol/L tương đương 99,072 mg/100 ml máu), tham gia giao thông đường bộ đi từ đường liên thôn H (đường nhánh) đi ra đường tỉnh lộ 564B (đường chính) không nhường đường cho xe mô tô mang biển số: 73V2-3117 do chị Nguyễn Thị Thu T4 điều khiển chở theo sau chị Hoàng Thị Bảo Y đang đi trên đường T, dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả: chị Hoàng Thị Bảo Y đa chấn thương dẫn đến tử vong vào ngày 05/9/2024. Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông nói trên, lỗi hoàn toàn do Nguyễn Phong T. Hành vi của Nguyễn Phong T đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo T là có cơ sở.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Phong T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo Nguyễn Phong T đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình nạn nhân với số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Quá trình điều tra, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo được gia đình bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự. Bị cáo có ông ngoại là Liệt sĩ đã hi sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo trong đợt dịch Covid-19 và trận lũ, lụt lịch sử năm 2020 đã tham gia giúp đỡ chính quyền, bà con nhân dân phòng, chống và khắc phục, được chính quyền địa phương công nhận, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn của hoạt động tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo là người có năng lực hành vi, buộc phải nhận thức được rằng không được điều khiển phương tiện cơ giới khi tham gia giao thông nếu như trong người có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép, việc này thể hiển ý thức coi thường các quy định của Luật giao thông đường bộ và sự an toàn khi tham gia giao thông. Hậu quả vụ tai nạn chết người đã gây nên mất mát, đau thương cho gia đình bị hại. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ già yếu, vợ không có việc làm, có hai còn còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Về nhân thân của bị cáo, ngoài lần phạm tội lần này, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, chưa vi phạm phạm luật lần nào; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Đối với chị Nguyễn Thị Thu T4 điều khiển xe mô tô mang biển số: 73V2 – 3117 không đội mũ bảo hiểm, chở người ngồi sau là chị Hoàng Thị Bảo Y không đội mũ bảo hiểm, không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực đã vi phạm điểm i, k khoản 2 Điều 6, điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ- CP của Chính phủ đã bị Công an huyện Q ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm người đàn ông đã bán xe mô tô mang biển số 73K1 – 5696 (có số khung, số máy nguyên thuỷ không trùng với kết quả tra cứu của đội CSGT Công an huyện Q) cho Nguyễn Phong T vào năm 2008, nhưng không xác định được đối tượng đã bán xe cho Nguyễn Phong T nên không có cơ sở để xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

Ngày 05/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị T5:

  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 73V2 - 3117
  • + 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 018945, tên chủ xe: Nguyễn Thị T5, biển số đăng ký: 73V2 -3117.

Ngày 10/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu Nguyễn Thị Thu T4 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Thu T4, có giá trị đên không thời hạn.

Việc xử lý vật chứng như trên của Cơ quan CSĐT Công an huyện Q là phù hợp với quy định của pháp luật, không ai có khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

Đối với 01 (một) xe mô tô mang biển số: 73K1 - 5696, có số khung, số máy nguyên thuỷ không có kết quả tra cứu của đội CSGT Công an huyện Q, bị cáo T khai mua lại của một người đàn ông không quen biết, không có giấy tờ, cơ quan điều tra đã xác minh điều tra nhưng không có kết quả. Đây là phương tiện gây tại nạn có nguồn gốc không rõ, là vật chứng vụ án; căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước; trả lại cho bị cáo T 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Phong T, có giá trị không thời hạn.

[7] Về Dân sự: Đại diện gia đình bị hại và bị cáo Nguyễn Phong T đã tự nguyện thỏa thuận bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Phía gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền này và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

Chị Nguyễn Thị Thu T4 từ chối giám định thương tích và yêu cầu bồi thường nên Hội đồng không có cơ sở để xem xét.

[8] Án phí hình sự: buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên xử:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Phong T cho UBND xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và gia đình bị cáo có trách nhiệm cùng phối hợp để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Luật thi hành án Hình sự .

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Super cub mang biển số 73K1 – 5696. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2025giữa cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Phong T, có giá trị không thời hạn.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phong T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:

- Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/02/2025).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã An Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 09/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số quyết định: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phong Thiệu bị truy tố về tôi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger