TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm Số: 09/2024/KDTM-GĐT Ngày: 06/05/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;
Các Thẩm phán: ông Hoàng Thanh Dũng;
ông Võ Văn Khoa.
Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân, Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án Kinh doanh Thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:
1/Nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP C;
Địa chỉ: A T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật.
Ông Trần Minh B, là Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Thanh T, là Nhân viên thu hồi nợ.
Địa chỉ: 15B Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 4, thành phố Mỹ Tho,
tỉnh Tiền Giang.
2/Bị đơn:
Công ty TNHH T4;
Người đại diện theo pháp luật.
Ông Hồ Văn T1, là Giám đốc;
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
3/Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn T1, sinh năm 1944;
- Bà Mai Thị X, sinh năm 1955;
- Bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1976;
- Ông Hồ Trung S, sinh năm 1979;
- Bà Hồ Thị Tuyết H, sinh năm 1988;
- Ông Hồ Quang P, sinh năm 1990;
- Bà Hồ Thị Ánh T2, sinh năm 1984;
- Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: ấp Thạnh Thới, xã Đồng Sơn, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: khu phố E, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: khu phố C, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngân hàng TMCP C (V) khởi kiện, đòi công ty TNHH T4 (công ty T4) phải trả số tiền nợ lãi, tiền nợ lãi trong hạn, tiền nợ lãi quá hạn và các chi phí khác phát sinh (nếu có) theo các hợp đồng tín dụng sau đây:
- -Hợp đồng tín dụng số 67007 ngày 24/01/2006; hợp đồng tín dụng số 67103 ngày 08/12/2006; hợp đồng tín dụng số 77088 ngày 18/10/2007; hợp đồng tín dụng số 77101 ngày 19/11/2007; hợp đồng tín dụng số 87025 ngày 22/04/2008; hợp đồng tín dụng số 87050 ngày 30/12/2008; hợp đồng tín dụng số 107005 ngày 13/01/2010; hợp đồng tín dụng số 107018 ngày 27/04/2010; hợp đồng tín dụng số 100367 ngày 12/10/2020; hợp đồng tín dụng số 120032 ngày 13/01/2011;
- -Số tiền nợ lãi, tính đến hết ngày 09/07/2021, là: 25.517.362.396 đồng, bao gồm: tiền lãi trong hạn: 21.280.834.821 đồng; tiền lãi quá hạn: 4.236.527.575 đồng.
Về những khoản tiền nợ gốc, công ty T4 đã trả xong.
Tại quyết định số 03/2022/QÐST-KDTM ngày 16/08/2022, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- -Công ty TNHH T4 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP C số tiền lãi là 25.517.362.396 đồng (hai mươi lăm tỷ năm trăm mười bảy triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn ba trăm chín mươi sáu đồng), trả vào ngày 31/10/2022.
Trong trường hợp công ty T4 không thực hiện trả nợ theo thời gian nói trên, thì tài sản thế chấp gồm có:
- -Thửa đất số 1056, 1057, 1064, 1779, 1780, 1781, 1782, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích là 10.393m², đất tại ấp T, xã V, huyện G, Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T-00018.QSDÐ/3/60T-QĐUB do UBND tỉnh T cấp ngày 23/07/2001 cho công ty TNHH T4 đứng tên;
- -Thửa đất số 1044, 1045, 1046, 1064, 1818, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích là 7.271m², đất tại ấp T, xã V, huyện G, Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T00056.QSDĐ/2376/T-QĐUB do UBND tỉnh T cấp ngày 30/06/2003 cho công ty TNHH T4 đứng tên (theo hợp đồng thế chấp số 100367/HĐTC ngày 12/10/2010; phụ lục hợp đồng thế chấp số 01PL/HĐTC ngày 26/01/2011 và phụ lục HĐTC số 03PL/HĐTC ngày 08/08/2011 ký kết giữa V và công ty TNHH T4).
Sẽ giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
(Quyết định sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án).
Sau đó, vào ngày 06/10/2023, các ông (bà) Mai Thị X, Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1 có đơn yêu cầu xem xét lại quyết định sơ thẩm nói trên.
Tại quyết định số 27/QĐ-VKS-KDTM ngày 11/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị quyết định số 03/2022/QÐST-KDTM ngày 16/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang nói trên; yêu cầu hủy bỏ quyết định này để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
Lý do chính, như sau:
- -Trong hồ sơ vụ án, có tài liệu là “Đơn xin vắng mặt” ghi ngày 01/07/2022 của những người có tên sau đây: Mai Thị X, Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1, nhưng văn bản này không có công chứng/chứng thực. Hiện nay, các ông (bà) Mai Thị X, Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1 không thừa nhận “Đơn xin vắng mặt” ghi ngày 01/07/2022;
- -Bản tự khai ghi ngày 01/07/2022 và “Đơn xin vắng mặt” ghi ngày 01/07/2022 đều không có nguồn gốc xuất xứ, để xác định tính hợp pháp;
- -Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 21/07/2022 không đúng thủ tục tố tụng; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ không thể hiện rõ ràng về chi tiết từng thửa đất, về tài sản có trên đất....
- -Việc hòa giải của Tòa án cấp sơ thẩm thiếu người tham gia tố tụng (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán-Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về mối quan hệ giữa ông Hồ Văn T1-bà Mai Thị X và những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1 (là những đương sự trong vụ án này):
- -Ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X là vợ-chồng (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31/quyển số 01, ngày 23/05/2007 của xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang); các ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1, là những người con của ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X.
[2]Về công ty TNHH T4 (công ty T4):
Trước tháng 07/2002, ông Hồ Văn T1 là chủ doanh nghiệp tư nhân M tại xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Vào ngày 11/07/2002, ông Hồ Văn T1 làm thủ tục và đăng ký thành lập công ty TNHH T4-là công ty TNHH H2 (trở lên).
Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (thay đổi lần thứ 13) đăng ký vào ngày 18/04/2017, thì công ty TNHH T4 có 02 (hai) thành viên góp vốn, là ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X.
[3]Về khoản nợ (tiền lãi) là 25.517.362.396 đồng của công ty C (V) và về tài sản thế chấp:
- [3.1]Theo sự thừa nhận của ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X (thể hiện qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án), thì từ năm 2006, V đã cho công ty T4 vay tiền theo nhiều hợp đồng và những khoản tiền vay đó, đều có tài sản thế chấp để bảo đảm việc trả nợ.
Tính cho đến ngày nay, công ty T4 đã trả hết số tiền nợ vốn cho ngân hàng, nhưng vẫn còn nợ tiền lãi, là 25.517.362.396 đồng (những biên bản thừa nhận nợ với V-bút lục 351-358; tờ tự khai ghi tháng 06/2022; biên bản hòa giải ngày 20/06/2022; biên bản hòa giải ngày 15/07/2022; biên bản hòa giải ngày 08/08/2022 và biên bản hòa giải thành ngày 08/08/2022.......);
- [3.2]Tài sản thế chấp trong giao dịch vay tài sản giữa V và công ty T4 nói trên, là những thửa đất sau đây: (1)Thửa đất số 1056, 1057, 1064, 1779, 1780, 1781, 1782, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích là 10.393m² tại ấp T, xã V, huyện G, Tiền Giang (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L604488 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận: T-00018.QSDĐ/3/60T-QĐUB ngày 23/07/2001 do UBND tỉnh T cấp cho doanh nghiệp tư nhân M); (2)Thửa đất số 1044, 1045, 1046, 1064, 1818, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích là 7.271m² tại ấp T, xã V, huyện G, Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X390667 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận: T00056.QSDĐ/2376/T-QĐUB) ngày 30/06/2003 do UBND tỉnh T cấp cho công ty TNHH T4.
(theo hợp đồng thế chấp số 100367/HĐTC ngày 12/10/2010; phụ lục hợp đồng thế chấp số 01PL/HĐTC ngày 26/01/2011 và phụ lục HĐTC số 03PL/HĐTC ngày 08/08/2011 ký kết giữa V và công ty T4).
- [3.3]Như vậy, với chứng cứ phân tích nói trên, Tòa án có căn cứ kết luận như sau:
- -Về khoản nợ (tiền lãi) là 25.517.362.396 đồng của công ty C (V): đây là khoản nợ có thật, được chính ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X-thành viên góp vốn của công ty T4-thừa nhận và cam kết trả nợ;
- -Về tài sản thế chấp: tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Văn T1 (với tư cách là chủ doanh nghiệp tư nhân M) và thuộc quyền sử dụng của công ty T4; không thuộc quyền sử dụng của những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1, là những người con của ông Hồ Văn T1 và bà Mai Thị X.
[4]Với những tài liệu, chứng cứ và diễn biến của vụ án đã phân tích nói trên, Tòa án có căn cứ kết luận rằng kháng nghị số 27/QĐ-VKS-KDTM ngày 11/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là chưa đúng pháp luật; lý do như sau:
- -Sau khi thụ lý vụ án (thụ lý vụ án vào ngày 13/05/2022), Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ những thủ tục tố tụng theo luật định, đối với những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1, cụ thể như sau: -tại bản tự khai ghi ngày 01/07/2022 gửi Tòa án cấp sơ thẩm, bà Mai Thị X và những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1 đã thừa nhận số tiền nợ (25.517.362.396 đồng), nêu ý kiến xin giảm tiền lãi và không có ý kiến gì về tài sản thế chấp. Cùng với bản tự khai ngày 01/07/2022, tại “Đơn xin vắng mặt” ghi ngày 01/07/2022, bà Mai Thị X và những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1, thừa nhận lại một lần nữa về ý kiến của họ đã nêu ra tại bản tự khai cùng ngày, đồng thời yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Về thủ tục tố tụng, những tài liệu, chứng cứ được Tòa án thu thập và đã được Tòa án dùng để giải quyết vụ án, phải suy đoán rằng đó là những tài liệu, chứng cứ hợp pháp, trừ khi có bằng chứng chứng minh ngược lại. Như vậy, trong khi chưa có bằng chứng để chứng minh ngược lại, nhưng bản kháng nghị đã đưa ra những giả thuyết (chưa được chứng minh), để từ đó yêu cầu hủy bỏ quyết định sơ thẩm số 03/2022/QÐST-KDTM ngày 16/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, là không đúng pháp luật;
- -Như đã phân tích ở phần nói trên, tài sản mà công ty T4 thế chấp cho V, là quyền sử dụng đất và thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Văn T1-bà Mai Thị X và thuộc quyền sử dụng của công ty T4, không thuộc quyền sử dụng của những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1. Vì vậy, việc phát mại tài sản (để trả nợ) là phát mại quyền sử dụng đất; trong trường hợp trên đất đó, có tài sản (nhà cửa, vật kiến trúc khác....) của những ông (bà) Hồ Thị Đ, Hồ Trung S, Hồ Thị Tuyết H, Hồ Quang P, Hồ Thị Ánh T2, Hồ Thị H1 và những đương sự này có khiếu nại trong giai đoạn thi hành án, thì mối quan hệ pháp luật này sẽ được giải quyết bằng một vụ án khi họ có yêu cầu khởi kiện;
điều đó cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của quyết định sơ thẩm số 03/2022/QÐST-KDTM ngày 16/08/2022.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 337; Điều 342; Điều 343; Điều 348 và Điều 349 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng nghị số 27/QĐ-VKS-KDTM ngày 11/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Giữ nguyên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2022/QÐST-KDTM ngày 16/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang giải quyết về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ngân hàng TMCP C; bị đơn là công ty TNHH T4 (và những đương sự khác tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Nơi nhận:
| TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Quyết định số 09/2024/KDTM-GĐT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số quyết định: 09/2024/KDTM-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng nghị số 27/QĐ-VKS-KDTM ngày 11/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2022/QĐST-KDTM ngày 16/08/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang .
