|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:08/2024/DS-ST Ngày: 20 - 6 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân:Bà: Phạm Hoàng Dung
Bà: Quách Thị Lê
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự;
-Nguyên đơn:Ngân hàng N (A)
Địa chỉ: Số B L, quận B, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc A
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thanh M – Phó Giám đốc phụ trách A chi nhánh huyện N theo giấy ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc A ủy quyền.
Người được ủy quyền lại: Ông Lê Minh C – Phó giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện N theo giấy ủy quyền số 1023/NHNo.NL-UQ ngày 21/11/2023
Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Ông Quách Văn Ư -Sinh năm:1982
Bà Trương Thị T -Sinh năm: 1983
Cùng địa chỉ: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
Tại phiên toà có mặt đại diện Ngân hàng N ông Lê Minh C, vắng mặt bị đơn ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T, ông Ư và bà T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Lê Minh C trình bày:
Ngày 20/6/2016 ông Quách Văn Ư, bà Trương Thị T (bà Trương Thị T là vợ của ông Quách Văn U), đã gửi phương án vay vốn đến Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N xin vay số tiền 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng) mục đích vay chăn nuôi.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ Ngân hàng thẩm định khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn theo quy định và đồng ý cho vay theo hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/7/2016, phương thức vay vốn từng lần, số tiền cho vay 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng), thời hạn cho vay 36 tháng, tổng số tiền phê duyệt vay 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay theo từng lần nhận nợ, thời hạn duy trì hạn mức 03 năm, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, lãi suất cho vay bên Ngân hàng và bên vay thỏa thuận, lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Bên vay không có tài sản để đảm bảo khoản vay.
Sau thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng trên đến ngày 08/12/2017 ông Quách Văn Ư, bà Trương Thị T đã trả được cho Ngân hàng số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng). Sau đó ông Ư và bà T không thực hiện việc trả nợ và lãi theo phân kỳ và đã vi phạm các thỏa thuận, cam kết đã ký trong hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản đôn đốc để ông Ư và bà T trả nợ nhưng ông Ư và chị T vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Nhà nước, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn do ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng đã ký kết.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- - Buộc ông Quách Văn Ư, bà Trương Thị T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2024 là: 90.352.275đ (Chín mươi triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng) trong đó:
- + Nợ gốc: 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng)
- + Nợ lãi: 25.352.275đ (Hai mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng)
- - Yêu cầu bên vay phải thanh toán tiền lãi theo hợp đồng cho đến ngày bên vay tất toán xong khoản nợ. Thời gian thực hiện trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T trình bày:
Gia đình ông có nhu cầu vay vốn nên đã gửi hồ sơ vay vốn đến Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N tổ vay vốn UBND xã P. Quá trình thẩm định vay vốn do ông không biết chữ mà chỉ biết ký nên trình tự làm hồ sơ, sổ sách đều nhờ thông qua tổ trưởng tổ vay vốn làm, đến khi thực nhận tiền ông cho rằng ban đầu Ngân hàng có đưa cho ông là 50.000.000₫ tuy nhiên tổ trưởng đã lấy lại và nói Ngân hàng đưa nhầm cho ông, thực tế ông chỉ nhận được số tiền 30.000.000₫ sau này ông được biết là tổ trưởng vay vốn lấy lại số tiền trên không trả lại cho Ngân hàng mà dùng vào việc cá nhân, số tiền tiền 30.000.000đ gia đình ông thực nhận ông đã trả lại cho Ngân hàng, số tiền còn lại gia đình ông yêu cầu tổ trưởng phải trả lại cho Ngân hàng.
Quá trình hòa giải tại Tòa án ông Ư và bà T trình bày gia đình ông có vay của Ngân hàng N 02 khoản vay tổng là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Hiện nay hai số vay gia đình ông đã thanh toán hết cho Ngân hàng. Quá trình làm việc ông Ư cung cấp cho Tòa án sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số [...] và 02 sổ vay vốn khác. Ông cho rằng sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số [...] là do gộp từ hai sổ vay cũ mà ông đã cung cấp tại phiên hòa giải, ông Ư khẳng định chữ ký trong sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng vốn số [...] là do ông ký, ông U yêu cầu Ngân hàng làm rõ 02 khoản vay từ hai sổ vay vốn mà ông đã cung cấp, ông Ư cho rằng số tiền Ngân hàng khởi kiện khác so với số tiền mà ông bà nợ thực tế.
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng N, chi nhánh N vẫn giữ nguyên yêu cầu mà không sửa đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện.
Đối với 02 sổ vay vốn mà bà T (Vợ ông U) đứng ra vay đã được tất toán xong, hiện tại chỉ còn lại sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số [...] ông Ư và bà T chưa thực hiện xong nghĩa vụ trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Ư và bà T phải trả cả tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng N và ông Ư bà T đang tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” do ông Ư và bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T có địa chỉ tại Làng L, xã P, huyện N, Thanh Hóa. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ ông Ư và bà T lần thứ hai đến để tham gia phiên toà nhưng ông Ư và bà T vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào quy định tại Điều 227, và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Ư và bà T.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/7/2016 ký kết giữa ông Quách Văn Ư và Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng được quy định tại các Điều 116, 117, 119, 463 của Bộ luật dân sự 2015 nên hợp đồng trên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngày 10/7/2016 Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân cho ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng). Sau thời gian thực hiện hợp đồng trên đến ngày 08/12/2017 ông Quách Văn Ư đã trả nợ cho Ngân hàng số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Kể từ phân kỳ tiếp theo cho đến nay ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T đã không thực hiện trả tiền gốc và lãi theo hợp đồng cho Ngân hàng, như vậy ông Ư và bà T đã vi phạm nghĩa vụ như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc Ngân hàng làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20 tháng 6 năm 2024 là: 90.352.275đ (Chín mươi triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng) trong đó: Nợ gốc: 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng) Nợ lãi: 25.352.275đ (Hai mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/6/2024 đến khi trả hết nợ là có cơ sở, là phù hợp theo quy định tại khoản 2, Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Xét lời khai lời trình bày của bị đơn ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T HĐXX thấy rằng: Lời trình bày của bà T và ông Ư cho rằng số tiền thực tế ông Ư và bà T vay của Ngân hàng N không đúng như yêu cầu khởi kiện, ông Ư, bà T cho rằng số tiền thực tế ông được nhận không như số tiền mà Ngân hàng khởi kiện, lý do ông, bà cho rằng; để có sổ vay vốn và hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/7/2016 là do tổ vay vốn làm và cộng gộp của 02 sổ khác mà thành, cho nên ông bà đề nghị xem xét lại số tiền thực tế mà Ngân hàng đã khởi kiện. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện sổ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/7/2016 là hoàn toàn có thật, quá trình giải quyết vụ án ông Ư thừa nhận chữ ký của ông là do ông ký trong sổ vay vốn và hợp đồng tín dụng nêu trên, số tiền vay, phương thức vay vốn, số tiền giải ngân và tiến độ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đều được thể hiện rõ trong hồ sơ vay vốn, các cam kết trả nợ giữa Ngân hàng và người vay vốn đã thể hiện qua các văn bản làm việc, khi hợp đồng tín dụng trên do bị đơn vi phạm nghĩa vụ, do đó HĐXX xét thấy sổ vay vốn và hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/7/2016 hai bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng nên hợp đồng trên là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, do đó có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
[3] Về mức lãi suất mà phía bị đơn ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N được tính kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/6/2024), ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 10/7/2016.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35 147; Khoản 1 Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 119, Điều 351, 357, Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
- Buộc ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền là: 90.352.275đ (Chín mươi triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng) trong đó: Nợ gốc: 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng) Nợ lãi: 25.352.275đ (Hai mươi lăm triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi lăm đồng).
- Kể từ ngày 21/6/2024, ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số:[...] ngày 10/7/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Quách Văn Ư và bà Trương Thị T phải chịu 4.517.613₫ (Bốn triệu, năm trăm mười bảy nghìn, sáu trăm mười ba đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền là 2.198.698đ (Hai triệu một trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0000719 ngày 17/11/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hội thẩm nhân dân | Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
| Quách Thị Lê | Phạm Hoàng Dung | Phạm Xuân Thành |
Quyết định số 08/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 08/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tin dụng
