Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – AN GIANG

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2025/QÐST-VHNGĐ

An Phú, ngày 26 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v Yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Tuân.

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Mộng Thu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - An Giang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2025/TLST-VHNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số : 06B/2025/QÐST-VHNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Thái Văn L, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Lê Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
  • - Ông Đinh Phước H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
  • - Cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025; địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Thái Thiên P: Bà Lê Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang.

Ông Thái Văn L, bà Lê Thị H cùng có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp. Ông Đinh Phước H1 vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Năm 2024, ông Thái Văn L tìm hiểu và quen biết với bà Lê Thị H. Quá trình quen biết, bà H2 có thông tin cho ông L việc bà H đã có gia đình nhưng đã ly thân từ lâu, bản thân ông L cũng không hiểu biết về pháp luật nên nghĩ bà H đã ly hôn nên ông L và bà H đã chung sống với nhau như vợ chồng. Sau đó, bà H có thai cháu Thái Thiên P. Trong quá trình bà H mang thai cháu P, bà H nộp đơn khởi kiện ly hôn với chồng cũ là ông Đinh Phước H1, sinh năm 1990 và được Tòa án giải quyết bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2025/QÐST-HNGĐ ngày 18/3/2025. Đến ngày 01/6/2025, bà H sinh cháu P. Khi ông L và bà H đi làm thủ tục khai sinh cho cháu P và thủ tục đăng ký kết hôn thì Công chức Tư pháp xã C có hướng dẫn ông đến Tòa án làm thủ tục xác định cha cho con thì mới có thể làm giấy khai sinh và đăng ký kết hôn. Ông L đã đi xét nghiệm AND tại Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 19/7/2025 với kết quả ông và cháu Thái Thiên P có quan hệ huyết thống Cha – Con với tần suất 99.999999385442%. Do đó, ông yêu cầu Tòa án công nhận ông là cha của cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H cho biết: Bà H là mẹ ruột của cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025. Bà H và ông Đinh Phước H1 trước đây là vợ chồng, trong thời gian bà chung sống với ông H1, bà và ông H1 có tất cả 02 con chung tên Định Thị Phương T, sinh ngày 21/02/2013 và Đinh Phước T1, sinh ngày 02/8/2018. Bà xác định ngoài 02 con chung này ra thì bà và ông H1 không có con chung nào khác. Do quá trình chung sống với ông H1 không hạnh phúc nên bà và ông H1 sống ly thân từ năm 2021, hai bên không hàn gắn tình cảm và cũng không gặp mặt nhau. Trong thời gian bà và ông H1 sống ly thân, bà quen biết và nảy sinh tình cảm với ông Thái Văn L. Sau đó, bà và ông L chung sống như vợ chồng và bà có thai cháu Thái Thiên P. Do vẫn còn ràng buộc hôn nhân với ông H1 nên trong quá trình mang thai cháu P bà đã nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Đinh Phước H1 và được Tòa án thị xã T, tỉnh An Giang giải quyết bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các dương sự số 46/2025/QDST-HNGĐ ngày 18/3/2025. Ngày 01/6/2025, bà sinh cháu P. Khi bà và ông L đi làm thủ tục khai sinh cho cháu P và thủ tục đăng ký kết hôn thì Công chức Tư pháp xã C có hướng dẫn bà và ông L đến Tòa án làm thủ tục xác định cha cho con thì mới có thể làm giấy khai sinh và đăng ký kết hôn. Do đó, bà xác định cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025 là con ruột của ông Thái Văn L. Ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác.

Theo đơn yêu cầu vắng mặt cùng ngày 05/11/2025, ông L và bà H cùng yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án mở phiên họp do cả hai đều đi làm tại Đồng Nai, việc xin nghỉ ảnh hưởng đến công việc và thu nhập cá nhân.

Tòa án ban hành Thông báo đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham

gia tố tụng và triệu tập ông Đinh Phước H1 đến Tòa án để ghi nhận ý kiến nhưng ông H1 vắng mặt không rõ lý do. Ông H1 cũng không giao nộp văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu xác nhận cha cho con của ông Thái Văn L.

Theo biên bản xác minh ngày 11/11/2025, đại diện ban ấp P, xã C, tỉnh An Giang cho biết: Ông Đinh Phước H1, sinh năm 1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh An Giang. H1 vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng thường xuyên đi lấy thuốc nam cho từ thiện, sáng đi chiều tối mới về nhà.

Cũng trong ngày 11/11/2025, Tòa án ghi nhận lời khai của bà Đỗ Thị D, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang với nội dung: Bà là mẹ ruột của ông Đinh Phước H1, bà có nhận thông báo của Tòa án thay cho ông H1, bà có báo lại cho H1 hay nhưng Hoàng bận đi làm từ thiện nên không đồng ý đến Tòa án vì H1 cho rằng H1 và Lê Thị H đã ly hôn vào tháng 3 năm 2025, trong quá trình ly hôn thì H đã có bầu con người khác chứ không phải con của H1 vì trong quá trình sống chung thì H1 và H chỉ có 02 đứa cho chung tên Định Thị Phương T và Đinh Phước T1. Bà xác định đứa con sau của bà Lê Thị H không phải là con của Đinh Phước H1. Bà D xác nhận nội dung trên là bà trình bày nhưng bà không đồng ý ký vào biên bản có sự chứng kiến của địa phương.

Theo Kết quả xét nghiệm AND của Viện sinh học phân tử LOCI, Mã KH A825 ngày 19/7/2025 xác nhận: Người có mẫu ghi tên Thái văn L (Ký hiệu: A825A; CCCD số: [...]; sinh ngày: 19/4/1992; quốc tịch: Việt Nam) có quan hệ huyết thống C – Con với người có mẫu ghi tên Thái Thiên P (Ký hiệu: A825B; Giấy CS: số 733, quyển số T06.2025; sinh ngày 01/6/2025; quốc tịch: Việt Nam), với tần suất 99.99999999385442 %.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - An Giang tham gia phiên họp:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm ra Quyết định giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng và đầy đủ.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu ông Thái Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Căn cứ khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đìnhđề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của ông Thái Văn L xác định cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025 là con ruột ông Thái Văn L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang nhận định:

[1] Về tố tụng:

Yêu cầu xác định cha cho con là việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Thái Văn L là người yêu cầu xác định cha cho con hiện cư trú tại địa chỉ: ấp P, xã C, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.

Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Phước H1 vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Xét thấy việc vắng mặt của ông H1 không gây trở ngại cho việc giải quyết việc hôn nhân và gia đình nên vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về đánh giá chứng cứ:

Trong suốt quá trình giải quyết, ông Đinh Phước H1 không giao nộp văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông H1 chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do ông Thái Văn L giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 91, 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung yêu cầu:

Ông Thái Văn L yêu cầu xác định cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025 là con ruột của ông Thái Văn L để ông L đi làm giấy khai sinh cho cháu P. Theo Kết quả xét nghiệm AND của Viện sinh học phân tử LOCI, Mã KH A825 ngày 19/72025 xác nhận: Người có mẫu ghi tên Thái văn L (Ký hiệu: A825A; CCCD số: [...]; sinh ngày: 19/4/1992; quốc tịch: Việt Nam) có quan hệ huyết thống C – Con với người có mẫu ghi tên Thái Thiên P (Ký hiệu: A825B; Giấy CS: số 733, quyển số T06.2025; sinh ngày 01/6/2025; quốc tịch: Việt Nam), với tần suất 99.99999999385442 %.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H đồng thời cũng là người đại diện theo pháp luật của cháu Thái Thiên P thống nhất với yêu cầu xác định cha cho con của ông Thái Văn L, xác định ông L là cha ruột của cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025.

Mặt khác, bà Đỗ Thị D là mẹ ruột của ông Đinh Phước H1 xác nhận trong

quá trình chung sống thì ông Đinh Phước H1 và bà Lê Thị H chỉ có 02 con chung tên Định Thị Phương T và Đinh Phước T1. Bà xác định đứa con sau của bà Lê Thị H không phải là con của ông Đinh Phước H1. Lời trình bày trên của bà D hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của ông Thái Văn L và bà Lê Thị H.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy ông Thái Văn L yêu cầu xác định cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025 là con ruột của ông L là có căn cứ và được Tòa án chấp nhận theo quy định tại các điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình

[4] Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

Ông Thái Văn L yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên ông L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[5] Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, các điều 149, 150, 367, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 88, 89, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu của ông Thái Văn L:

    Xác định ông Thái Văn L, sinh ngày 19/04/1992, căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 16/02/2022 là cha ruột của cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025 (theo Giấy chứng sinh số 733, quyển số T06.2025 ngày 01/6/2025 của Bệnh viện thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh).

  2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Ông Thái Văn L được miễn lệ phí Tòa án.
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Thái Văn L, bà Lê Thị H và ông Đinh Phước H1 có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày

nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (3);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND khu vực 15 – An Giang (1);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Phòng THA Dân sự
  • khu vực 15 – An Giang (1);
  • - Lưu VP (01);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 08/2025/QÐST-VHNGĐ ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG về yêu cầu xác định cha cho con

  • Số quyết định: 08/2025/QÐST-VHNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2024, ông Thái Văn L tìm hiểu và quen biết với bà Lê Thị H. Quá trình quen biết, bà H2 có thông tin cho ông L việc bà H đã có gia đình nhưng đã ly thân từ lâu, bản thân ông L cũng không hiểu biết về pháp luật nên nghĩ bà H đã ly hôn nên ông L và bà H đã chung sống với nhau như vợ chồng. Sau đó, bà H có thai cháu Thái Thiên P. Trong quá trình bà H mang thai cháu P, bà H nộp đơn khởi kiện ly hôn với chồng cũ là ông Đinh Phước H1, sinh năm 1990 và được Tòa án giải quyết bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/3/2025. Đến ngày 01/6/2025, bà H sinh cháu P. Khi ông L và bà H đi làm thủ tục khai sinh cho cháu P và thủ tục đăng ký kết hôn thì Công chức Tư pháp xã C có hướng dẫn ông đến Tòa án làm thủ tục xác định cha cho con thì mới có thể làm giấy khai sinh và đăng ký kết hôn. Ông L đã đi xét nghiệm AND tại Viện sinh học phân tử LOCI vào ngày 19/7/2025 với kết quả ông và cháu Thái Thiên P có quan hệ huyết thống Cha – Con với tần suất 99.999999385442%. Do đó, ông yêu cầu Tòa án công nhận ông là cha của cháu Thái Thiên P, sinh ngày 01/6/2025.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger