Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 – 3 – 2025

Về việc yêu cầu xác định

cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Vinh
Ông Nguyễn Hải Hà

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 771/2025/QĐXX–ST ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

Ông Vũ Đình T, sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: Số A, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số I H, phường A, quận B, Tp ..

- Người bị kiện:

Bà HUANG YU HUI (Huỳnh Ngọc H), sinh năm: 1980; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số A, ngách A, ngõ C, đoạn đường M, quận T, thành phố T, Trung Quốc (Đài Loan).

Địa chỉ liên lạc: Ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Liang Tsan Y, sinh năm 1968; (Đã chết).

Địa chỉ: 4, đường P, khóm D, thôn P, làng P, huyện C, Trung Quốc (Đài Loan).

2. Bà Đặng Thị B, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/12/2024, người khởi kiện ông Vũ Đình T trình bày:

Vào năm 2011, tôi và bà Huang Yu H1 (Tên gọi khác Huỳnh Ngọc H), sinh năm 1980, trú tại ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre có quan hệ tình cảm với nhau. Bà Huỳnh Ngọc H có thai vào ngày 10/12/2011 bà H sinh bé Huang Wu Q (Huỳnh Vũ Thanh S) tại Bệnh viện T1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bà H không báo cho tôi biết. Sau đó bà H tự đi đăng ký khai sinh cho con chung của tôi với bà H tại Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre và nói với tôi tên khai sinh của con là Huỳnh Vũ Thanh S (Huỳnh trong họ mẹ - Huỳnh Ngọc H; V- trong họ của cha – Vũ Đình T) nên tôi không có thắc mắc gì mà vẫn cấp dưỡng nuôi con bình thường từ đó đến nay.

Do tôi đi làm ăn xa một thời gian và không sống cùng bà H với con Huỳnh Vũ Thanh S nên tôi không được biết là trước đó bà H đã đăng ký kết hôn với ông Liang Tsan Y, sinh năm: 1968, Địa chỉ: 4 đường P, khóm D, thôn P, làng P, huyện C, Đài Loan và bà H đăng ký khai sinh cho con có cha là ông Liang Tsan Y, Quốc tịch Đài Loan. Bà H sang Đài Loan sinh sống, để lại con là Huỳnh Vũ Thanh S cho mẹ đẻ của bà H là bà Đặng Thị B, sinh năm: 1961, trú tại ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó đến nay. Cháu chưa từng đến Đài Loan sinh sống và học tập với mẹ và cha trong khai sinh là ông Liang Tsan Y mà vẫn sống và học tập tại Việt Nam với bà N là Đặng Thị B. Ông Liang Tsan Y có biết là cha của cháu S trên giấy tờ hay không thì tôi không được biết. Tôi vẫn gửi tiền cấp dưỡng cho con thông qua bà B và trong những dịp nghỉ hè, nghĩ lễ của con, tôi vẫn tạo điều kiện đưa con đi du lịch đây đó. Đến nay cháu đã là học sinh lớp 7/3 của trường THCS V1, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Mẹ cháu S là bà Huỳnh Ngọc H vẫn còn Quốc tịch Đài Loan. Chỉ đi và về Việt Nam những khi có việc gì cần giải quyết. Tôi có đề nghị bà H hợp tác để làm thủ tục khai nhận cha con giữa tôi và cháu S nhưng bà H phớt lờ. Bà ngoại của bé thì đã quá tuổi lao động, cháu thì đang độ tuổi dậy thì nên ương bướng, cá tính. Việc chăm sóc, dạy dỗ cháu có phần khó khăn. Tôi thì làm việc và sinh sống ở xa, không có căn cứ pháp luật hợp pháp để được trực tiếp chăm nuôi, dạy dỗ cháu.

Tôi đã đưa cháu đi xét nghiệm ADN. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN ngày 29/09/2024 của Công ty TNHH C1, kết luận tôi – Vũ Đình T có quan hệ huyết thống C - Con với cháu Huang Wu Qing S1 (Huỳnh Vũ Thanh S). Do vậy đề nghị quý tòa xem xét giải quyết, công nhận tôi – Vũ Đình T và cháu H3 (Huỳnh Vũ Thanh S) là cha con ruột. Tôi được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cải chính khai sinh và họ tên cho cháu theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt cùng ngày 03/3/2025 của người bị kiện bà Huang Yu H1 (Huỳnh Ngọc H) trình bày:

Tôi Huang Yu H1 (Huỳnh Ngọc H) và ông Liang Tsan Y, sinh năm 1968, địa chỉ: 4 đường P, khóm D, thôn P, làng P, huyện C, Đài Loan là vợ chồng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 64/CNKH, quyển số 01/2001 do tỉnh Bến Tre cấp ngày 13/02/2001. Do chúng tôi quá khác biệt về văn hóa và tuổi tác nên bất đồng quan điểm. Cuộc sống vợ chồng giữa tôi với ông L Tsan Yang quá ngột ngạt. Ở nơi đất khách quê người, tôi thấy cô đơn, lạc lỏng và chịu nhiều áp lực cả về vật chất và tinh thần. Lúc đó thì tôi đã gặp ông Vũ Đình T, (sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: 115, khu phố F, L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai) cùng là người Việt Nam, xa nhà sang Đài Loan làm ăn. Đồng cảnh nên giữa chúng tôi phát sinh quan hệ tình cảm và sau đó thì tôi mang thai nhưng do không phải con của ông L Tsan Yang nên khi thai kỳ đã lớn, sợ bị ông L Tsan Yang phát hiện nên tôi đã xin về Việt Nam một thời gian. Ngày 10/12/2011 thì tôi sinh bé tại Bệnh viện T1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không báo cho ông T hay ông Liang Tsan Y biết.

Vì lúc này ông T vẫn đang bên Đài Loan và tôi cũng biết ông T đã có gia đình tại Việt Nam. Nên tôi dùng Giấy đăng ký kết hôn giữa tôi với ông L Tsan Yang để đăng ký khai sinh cho con là Huang Wu Qing S1 (Huỳnh Vũ Thanh S). Huỳnh, V là tôi lấy họ của tôi với ông T để đặt cho con. Sinh con được một thời gian thì do ông L Tsan Yang bị bệnh nên tôi để con lại Việt Nam cho mẹ ruột tôi là bà Đặng Thị B, sinh năm: 1961, trú tại ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó. Tôi trở lại Đài Loan chăm sóc cho ông Liang Tsan Y. Đến ngày 12 tháng 7 năm 2012 thì ông Liang Tsan Y chết. Cho đến lúc chết thì ông Liang Tsan Y vẫn không biết tôi sinh cháu Huang W Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S) và khai sinh ông là cha của cháu. Sau khi ông L Tsan Yang chết, tôi vẫn ở lại Đài Loan làm ăn, sinh sống nhưng từ khi sinh cháu là năm 2011 đến nay, tôi chưa từng đưa cháu đến Đài Loan sinh sống, học tập hay thăm gia đình của ông Liang Tsan Y, cháu S vẫn sống và học tập tại Việt Nam với bà N là Đặng Thị B. Thỉnh thoảng tôi về Việt Nam thăm cháu và gia đình. Hiện nay cháu đang là học sinh lớp 7/3 của Trường THCS V1, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Sau khi ông L Tsan Yang chết, tôi có báo cho ông T là giữa tôi và ông T có con chung là cháu Huang W Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S) để ông T biết và có

trách nhiệm với cháu. Vì ông T cũng không biết việc tôi đã Đăng ký kết hôn với ông L Tsan Yang nên khi tôi nói tên con là Huỳnh Vũ Thanh S thì ông T không thắc mắc gì và ông T cũng đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và thăm nuôi con. Cũng nhiều lần ông T đề nghị tôi hợp tác để làm lại khai sinh cho con, có cha là ông T như ông T trình bày trong đơn là đúng sự thật, nhưng nghĩ đến việc ông T là người đã có gia đình nên tôi không muốn làm xáo trộn cuộc sống của cả hai nên tôi đã không đồng ý.

Nay, mẹ tôi là bà B và ông T cũng như cháu S cho biết, gia đình ông T cũng đã biết về việc cháu S là con của ông T và tôi nhưng đã thông cảm, thừa nhận bé nên để đảm bảo quyền lợi cho bé H3 (Huỳnh Vũ Thanh S) được tốt nhất cả về vật chất, tinh thần và danh phận của bé. Cũng như ông T, tôi muốn ông T là người có nghĩa vụ và quyền của một người cha ruột đối với bé cả về thực tế và pháp luật. Do vậy, nay ông T gửi đơn khởi kiện tôi, đề nghị quý tòa xác nhận quan hệ cha con giữa ông Vũ Đình T với con tôi là bé Huỳnh Vũ Thanh S thì tôi đồng ý.

Đề nghị quý tòa, căn cứ theo quy định pháp luật, công nhận ông Vũ Đình T là cha ruột của bé H3 (Huỳnh Vũ Thanh S). Ông T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh lại phần tên cha trong giấy khai sinh cho con và thay đổi tên của con cho phù hợp với tên tuổi của người Việt Nam và dòng họ của ông T theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt cùng ngày 03/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị B trình bày:

Con gái tôi là Huang Y (Huỳnh Ngọc H), trú tại ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Vào năm 2001 thì đăng ký kết hôn với ông Liang Tsan Y, sinh năm 1968. Địa chỉ: 4 đường P, khóm D, thôn P, làng P, huyện C, Đài Loan và sang Đài Loan sinh sống. Từ đó cho đến khi chết là năm 2012, ông Liang Tsan Y không về Việt Nam thăm gia đình vợ lần nào. Vào cuối năm 2011, con gái tôi lúc đó đang mang thai khoảng 6 tháng, về quê ở cũng tôi. Tôi có nghe con tâm sự là để giảm thiểu chi phí sinh đẻ, vì bên đó đất khách quê người, cuộc sống khó khăn và chồng không tâm lý nên về Việt Nam sinh con và nhờ mẹ trông nom, chăm sóc trong thời gian thai sản.

Đến gần ngày sinh, H đưa tôi lên S thăm khám và ngày 10/12/2011 thì H sinh bé H3 (Huỳnh Vũ Thanh S) tại Bệnh viện T1, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc H sinh con và khai sinh tên họ, quốc tịch.... cho cháu tôi không được biết. Chỉ đến khi cháu đến tuổi đi học, cần giấy tờ thì H mới gửi giấy tờ và đăng ký học cho con thì tôi mới biết, ngoài tên Huỳnh Vũ Thanh S vẫn gọi, cháu có tên họ đầy đủ là Huang Wu Q (Huỳnh Vũ Thanh S). Sau khi sinh bé S được mấy tháng thì H nói phải sang Đài Loan làm lại và chăm chồng, do chồng bị bệnh nên để lại bé S cho tôi chăm sóc nuôi dưỡng từ đó đến nay. H gửi tiền về cho tôi và thỉnh thoảng vào

những dịp nghỉ lễ hay ở Việt Nam có việc quan trọng thì H mới về thăm con và gia đình. Sau đó mấy năm thì H mới nói với tôi cháu S là con ruột của ông Vũ Đình T, từ đó ông T cũng thường xuyên về thăm cháu, chuyển tiền để tôi chăm nuôi và đóng học phí cho cháu S.

Từ khi sinh cháu đến nay, cháu sinh sống cùng tôi tại địa chỉ ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre và hiện đang là học sinh lớp 7/3 của trường THCS V1, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Những năm gần đây, vào những dịp nghỉ hè, dịp nghỉ lễ, ông T lại xin tôi đưa con ra B để thăm gia đình của ông T, đưa về quê của ông T ở Đồng Nai, ở Thành phố Hồ Chí Minh, đưa cháu đi du lịch. Có nhiều lần ông T cũng đưa cả tôi đi cùng. Tôi cũng biết được gia đình ông T đều thừa nhận và cũng yêu thương cháu S như ruột thịt trong gia đình nên tôi cảm thấy yên tâm. Nay cháu đang trong độ tuổi dậy thì nên ương bướng, cá tính. Việc chăm sóc, dạy dỗ cháu có phần khó khăn. Tôi thì đã quá tuổi lao động và chỉ là nông dân, không bắt kịp công nghệ để có thể hiểu và dạy dỗ, giám sát cháu được. Mẹ cháu thì sinh sống ở xa, không trực tiếp chăm nuôi, dạy dỗ cháu được.

Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu và vì tương lai sau này của cháu được tốt nhất về mọi mặt. Hơn nữa, cha mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng con vẫn tốt hơn tôi là bà của cháu. Nay nhận thấy ông T và con gái tôi đã thống nhất việc xác nhận cha con cho cháu và cháu cũng đã lớn, có quyền quyết định tương lai của cháu nên tôi cũng đồng ý theo yêu cầu của ông T.

Mọi quyết định về chỗ ở, môi trường học tập, người trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy hay thay đổi tên họ (nếu có) là quyền và nghĩa vụ của ông Vũ Đình T, của con gái tôi – Huỳnh Ngọc H và cháu Huỳnh Vũ Thanh S. Tôi chấp nhận theo quyết định của quý tòa, thỏa thuận của cha mẹ cháu và cháu. Không có thắc mắc hay khiếu nại, khiếu kiện bất kỳ nội dung gì.

Do điều kiện ở xa, đi lại khó khăn nên tôi xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và giải quyết vụ án của quý tòa. Kính mong quý tòa xem xét, chấp thuận và giải quyết theo quy định pháp luật. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Vũ Đình T.

Tại phiên tòa giải quyết vụ án:

Các đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử và giải quyết vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đình T. Xác định cháu Huỳnh Vũ Thanh S sinh ngày 10 tháng 12 năm 2011 do bà Huỳnh Ngọc H sinh ra là con đẻ của ông Vũ Đình T. Ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; lời trình bày của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngày 18/11/2024 nguyên đơn ông Vũ Đình T nộp đơn khởi kiện yêu cầu công nhận cháu Huang W Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S) là con ruột của ông Vũ Đình T, đồng thời yêu cầu được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy khai sinh và thay đổi họ tên của cháu H3 (Huỳnh Vũ Thanh S) theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại thời điểm thụ lý, người bị kiện bà HUANG YU HUI (Huỳnh Ngọc H) có hộ khẩu thường trú: Số A, ngách A, ngõ C, đoạn đường M, quận T, thành phố T, Trung Quốc (Đài Loan) nên vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre theo quy định tại các Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Ông Liang Tsan Y đã mất và không có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Liang Tsan Y; Ông Vũ Đình T, bà H4(Huỳnh Ngọc H) và bà Đặng Thị B có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Vũ Đình T và bà Huang Yu H1 (tên khác Huỳnh Ngọc H) đều thống nhất trình bày: Vào năm 2011, giữa ông T và bà H có quan hệ tình cảm, dẫn đến việc bà H mang thai và sinh con chung là cháu H2 Wu Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S) vào ngày 10/12/2011 tại Bệnh viện T1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong quá trình đăng ký khai sinh, bà H đã ghi tên ông Liang Tsan Y (chồng của bà H) là cha của cháu S mà không thông báo cho ông T. Sau khi ông L Tsan Yang qua đời, bà H mới thông báo cho ông T biết cháu S là con chung của bà H và ông T, nhằm để ông T thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của người cha đối với cháu S.

Tại kết luận giám định số 2239HCM/2024 ngày 26/9/2024 của Công ty TNHH C1, kết luận ông Vũ Đình T và cháu Huang Wu Qing S1 (Huỳnh Vũ Thanh S) có quan hệ huyết thống cha - con.

Nhận thấy, lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ xác nhận ông Vũ Đình T là cha của cháu Huang W Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S). Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình, việc ông T yêu cầu xác nhận quan hệ cha con với cháu S là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu điều chỉnh thông tin trong Giấy khai sinh của cháu S thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về hộ tịch để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[4] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy yêu cầu của ông Vũ Đình T về việc xác định cha cho con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của bà H nên được chấp nhận.

[5] Do xác định cháu H3 (Huỳnh Vũ Thanh S) là con đẻ của ông Vũ Đình T nên các quyền, nghĩa vụ giữa ông Liang Tsan Y và cháu Huang W Qing Shan (Huỳnh Vũ Thanh S) được chấm dứt theo yêu cầu của các đương sự.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, khoản 10 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 40, khoản 5, 6 Điều 68, Điều 149, khoản 1 Điều 288, Điều 367, Điều 369, Điều 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 3 Luật Hộ tịch; Khoản 4 Điều 16 Thông tư số: 04/2022/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của ông Vũ Đình T.
  2. Xác định ông Vũ Đình T là cha ruột của cháu Huỳnh Vũ Thanh S sinh ngày 10 tháng 12 năm 2011 do bà Huang Yu H1 (tên khác Huỳnh Ngọc H) sinh ra là con đẻ của ông Vũ Đình T
  3. Ông Vũ Đình T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007841 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. Ông Vũ Đình T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre;
  • - UBND huyện Bình Đại;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Hải Hà Nguyễn Trọng Vinh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về yêu cầu xác định cha cho con

  • Số quyết định: 08/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu xác định cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger