Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 08/2025/DS-GĐT

Ngày: 15/01/2025

V/v tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả

bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi

thường thiệt hại về tài sản.

 

 

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Thiện

Các Thẩm phán: ông Võ Văn Cường

bà Huỳnh Thanh Duyên

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản”, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Hà Thị T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1981; địa chỉ: số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: số B N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số D T mới, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Ngọc M thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

2. Bị đơn:

2.1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 (B); địa chỉ trụ sở: tháp B, số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

2.2. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L; địa chỉ trụ sở: số E P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1961;

3.2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: số B T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3.3. Bà Nguyễn Ngọc Thanh T2, sinh năm 1992; địa chỉ: số B T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3.4. Ông Trần Xuân Đ1, sinh năm 1957; địa chỉ: số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3.5. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ trụ sở: hẻm B H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3.6. Văn phòng C; địa chỉ trụ sở: số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hà Thị T trình bày như sau:

Ngày 01/4/2015, bà ký Hợp đồng tín dụng số 479/2015/595063/HĐTD với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 – Chi nhánh B1 (viết tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 1,1 tỷ đồng, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 9,5%/năm. Để bảo đảm cho khoản vay, bà thế chấp phần đất có diện tích 164m² thuộc thửa số 84, tờ bản đồ G.160.IB và tài sản gắn liền với đất là căn nhà diện tích sàn 177,95m², tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố B do bà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4205051053 ngày 14/01/2004. Thực hiện hợp đồng tín dụng, bà đã trả cho Ngân hàng tiền lãi đến hết ngày 30/6/2015.

Ngày 23/10/2015, bà và Ngân hàng đã làm việc có lập biên bản, trong đó bà cam kết chậm nhất đến ngày 15/11/2015 sẽ thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi; nếu không thực hiện, bà sẽ bàn giao toàn bộ tài sản thế chấp cho Ngân hàng xử lý. Ngày 05/4/2016, Ngân hàng và Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L (viết tắt là Trung tâm Đ) đã bán đấu giá toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên cho ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị L để thu hồi nợ. Ngày 04/8/2016, Ngân hàng và Trung tâm đấu giá đã tự ý di chuyển đồ đạc của bà ra ngoài để bàn giao nhà đất cho ông T1, bà L. Bà cho rằng, việc Ngân hàng bán đấu giá tài sản thế chấp của bà trong khi bà chưa bàn giao tài sản, Trung tâm đấu giá bán đấu giá tài sản nhưng không công khai, không đăng thông báo, không báo cho bà biết, là không đúng pháp luật. Do đó, bà yêu cầu Tòa án:

- Hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 05/4/2016 đối với tài sản thế chấp nêu trên;

- Hủy phần cập nhập biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4205051053 từ tên người sử dụng là bà sang ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thị L ngày 09/5/2016 và điều chỉnh biến động ngày 08/3/2019 từ ông bà Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị L sang bà Nguyễn Ngọc Thanh T2;

- Yêu cầu Ngân hàng bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 2.413.358.800 đồng, tiền thu nhập bị mất là 2.390.000.000 đồng và tiền thuê nhà là 312.000.000 đồng tính đến ngày 02/3/2023, tổng cộng là 5.115.358.800 đồng. Trường hợp Ngân hàng không trả được bằng hiện vật thì bà yêu cầu bồi thường theo giá trị.

Bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của Ngân hàng.

Bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 trình bày:

Ngân hàng thống nhất với trình bày của bà T về việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khoản tiền lãi bà T đã trả cho Ngân hàng. Ngày 23/10/2015, bà T cam kết chậm nhất đến ngày 15/11/2015 sẽ thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng; nếu không thực hiện, bà T sẽ bàn giao toàn bộ tài sản thế chấp cho Ngân hàng xử lý. Sau đó, bà T không trả được nợ như cam kết. Ngân hàng đã xử lý tài sản thế chấp của bà T để thu hồi nợ. Việc bán đấu giá tài sản của bà T được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Số tiền thu được từ việc bán đấu giá là 1.803.141.000 đồng, Ngân hàng đã trả tiền phí dịch vụ bán đấu giá, các khoản thuế, trích thu hồi nợ gốc và lãi của bà T. Số tiền còn lại là 526.206.753 đồng, Ngân hàng đã cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng để thi hành các bản án/quyết định mà bà T có nghĩa vụ thi hành án. Ngân hàng cũng đã thông báo cho bà T biết để thu dọn đồ đạc trong nhà, bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá nhưng bà T không thực hiện. Ngày 04/8/2016, Ngân hàng, Trung tâm đấu giá cùng chính quyền địa phương đã di dời tài sản của bà T ra khỏi nhà để bàn giao nhà đất cho ông T1, bà L. Tài sản của bà T được kiểm kê, lập biên bản và gửi tại kho thuê của ông Trần Xuân Đ1.

Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán số tiền thuê kho gửi giữ tài sản của bà T là 51.100.000 đồng.

Bị đơn Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L trình bày:

Trung tâm đấu giá có ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với Ngân hàng. Trung tâm đấu giá đã thực hiện đúng các thủ tục bán đấu giá đối với tài sản thế chấp của bà T như ra thông báo bán đấu giá tài sản, niêm yết công khai thông báo bán đấu giá tài sản tại Trung tâm, Ngân hàng, Ủy ban nhân dân phường L, địa chỉ nhà đất, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Sau khi đấu giá thành, Trung tâm đấu giá đã ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá với khách hàng là ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thị L. Hợp đồng mua bán tài sản

được công chứng tại Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C). Trung tâm đấu giá không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng trình bày:

Theo các quyết định thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (Chi cục Thi hành án), bà T phải thi hành án trả cho bà Nguyễn Thị Thu H1 756.800.000 đồng, bà Nguyễn Thị L 492.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thanh T3 290.000.000 đồng, tiền lãi suất chậm thi hành án, tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục T4 hành án đã xác minh điều kiện thi hành án của bà T. Ngày 10/5/2016, Chi cục Thi hành án đã ban hành Quyết định số 19/QĐ-CCTHA về việc thu hồi tiền của người phải thi hành án do người thứ ba giữ và Ngân hàng đã chuyển khoản cho Chi cục Thi hành án số tiền phát mãi tài sản còn dư của bà T là 526.206.753 đồng. Ngày 28/8/2016, Chi cục Thi hành án đã phân chia theo tỷ lệ để chi các khoản bà T phải thi hành án nêu trên. Việc thu hồi tiền phát mãi tài sản của bà T còn dư và phân phối khoản tiền này thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng công chứng Đỗ Văn T5 trình bày:

Ngày 05/6/2016, Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C) đã công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá giữa Trung tâm đấu giá và ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thị L đúng trình tự, thủ tục, phù hợp với quy định của pháp luật. Yêu cầu của bà T về việc hủy hợp đồng là không có căn cứ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Xuân Đ1 trình bày:

Ông cho Ngân hàng thuê phòng để giữ đồ đạc với giá 700.000đ/tháng. Ngân hàng chuyển tài sản vào cất giữ trong phòng, ông không kiểm đếm. Hiện nay, căn phòng này vẫn còn nguyên niêm phong, các tài sản còn nguyên. Ông đề nghị Ngân hàng nhận lại tài sản gửi giữ, trả lại phòng cho ông trong thời gian sớm nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị L trình bày:

Vợ chồng bà mua nhà đất của bà T thông qua bán đấu giá tài sản đúng quy định. Vợ chồng bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T về việc hủy kết quả bán đấu giá. Đề nghị Tòa án giữ nguyên kết quá bán đấu giá tài sản.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 18/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T đối với các bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2; Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L về việc:

- Yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do Trung tâm dịch vụ đấu giá tỉnh L bán đấu giá ngày 05/4/2016 theo yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 - Chi nhánh B1 đối với diện tích đất 164m² thuộc thửa 84 tờ bản đồ G.160.I.B tọa lạc tại phường L, thành

phố B và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 2 (01 trệt, 01 lầu) diện tích sàn 177,95m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4205051053 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 14/01/2004.

- Yêu cầu bồi thường tài sản bị thiệt hại với số tiền 2.413.358.800 đồng, tiền thu nhập bị mất là 2.390.000.000 đồng và tiền thuê nhà là 312.000.000 đồng tính đến ngày 02/3/2023, tổng cộng là 5.115.358.800 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 đối với nguyên đơn bà Hà Thị T.

Buộc bà Hà Thị T phải thanh toán số tiền thuê kho gửi giữ tài sản của bà T tính đến ngày xét xử là 52.640.000 đồng.

Buộc bà Hà Thị T phải nhận lại các tài sản của bà mà Ngân hàng đang gửi tại kho của ông Trần Xuân Đ1, cụ thể theo phần quyết định của bản án sơ thẩm này.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29/5/2023, nguyên đơn bà Hà Thị T kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2024/DS-PT ngày 15/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:

Huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 18/5/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc về việc “Tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa nguyên đơn bà Hà Thị T với bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh L.

Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc để giải quyết sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thi hành án theo quy định pháp luật.

Ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng có Thông báo số 210/TB-VKS-DS kiến nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Ngày 23/02/2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 251/QĐ-VKS-DS ngày 30/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2024/DS-PT ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Phần đất có diện tích 164m² thuộc thửa số 84, tờ bản đồ G.160.IB và tài sản gắn liền với đất là căn nhà diện tích sàn 177,95m², tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng do bà Hà Thị T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4205051053 ngày 14/01/2004. Ngày 01/4/2015, bà T ký hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 - Chi nhánh B1 (viết tắt là Ngân hàng) để bảo đảm cho khoản nợ vay là 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 9,5%/năm theo Hợp đồng tín dụng số 479/2015/595063/HĐTD ngày 01/4/2015.

[2] Thực hiện hợp đồng tín dụng, bà T chỉ trả cho Ngân hàng tiền lãi đến hết ngày 30/6/2015 thì không trả được khoản nào nữa; do đó bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Tại Biên bản làm việc ngày 23/10/2015 giữa bà T và Ngân hàng có nội dung: “Ngày 23/10/2015 tôi đã thỏa thuận với Ngân hàng chậm nhất đến 15/11/2015 tôi sẽ thanh toán toàn bộ số nợ lãi. Nếu không thực hiện cam kết trên tôi sẽ bàn giao toàn bộ tài sản cho Ngân hàng xử lý để thu hồi nợ gốc lãi theo biên bản thỏa thuận”. Theo biên bản nêu trên, Ngân hàng đã đồng ý cho bà T được gia hạn nợ đến hết ngày 15/11/2015, quá thời hạn trên mà bà T không thanh toán được nợ thì bà T sẽ bàn giao tài sản cho Ngân hàng. Thực tế, đến ngày 15/11/2015, bà T không thanh toán được nợ cho Ngân hàng nhưng Ngân hàng cũng không làm việc lại với bà T để yêu cầu bà T bàn giao tài sản thế chấp nhằm xử lý, thu hồi nợ theo biên bản thỏa thuận. Ngày 23/11/2015, Ngân hàng có giấy mời bà T đến làm việc vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 30/11/2015 để xử lý tài sản bảo đảm. Tại Biên bản làm việc ngày 30/11/2015 của Ngân hàng thể hiện bà T không có mặt nhưng trong hồ sơ vụ án, không có tài liệu nào cho thấy bà T đã nhận được giấy mời ngày 23/11/2015 của Ngân hàng. Như vậy, bà T chưa bàn giao tài sản cho Ngân hàng nên các bên chưa thực hiện xong thỏa thuận ngày 23/10/2015. Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp quyền sử dụng đất mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì quyền sử dụng đất đã thế chấp được xử lý theo thoả thuận; nếu không có thỏa thuận hoặc không xử lý được theo thoả thuận thì bên nhận thế chấp có quyền khởi kiện tại Toà án”. Lẽ ra, trong trường hợp này, Ngân hàng phải làm việc lại với bà T để yêu cầu bà T bàn giao tài sản thế chấp để xử lý, thu hồi nợ theo biên bản thỏa thuận, trường hợp bà T cố tình trốn tránh hoặc có tranh chấp thì Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự mới đúng quy định của pháp luật. Trong khi chưa làm việc với bà T về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, Ngân hàng đã tự thực hiện việc thuê Công ty cổ phần Đ3 và Thẩm định giá PIV để thẩm định tài sản thế chấp, ký hợp đồng bán đấu giá tài sản số 114/2015/HĐBĐGTS/TD với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản

tỉnh L, là không đúng với thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật đã viện dẫn nêu trên, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Do đó, tại quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định Ngân hàng có quyền thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận.

[3] Tại thời điểm tranh chấp, việc bán đấu giá tài sản thế chấp đã hoàn thành, ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thị L (người mua trúng đấu giá tài sản) đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cập nhật biến động sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 4205051053 ngày 09/5/2016; sau đó, điều chỉnh biến động từ ông T1, bà L sang bà Nguyễn Ngọc Thanh T2 ngày 08/3/2019. Do đó, khi xác định Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp của bà T để thu hồi nợ là không đúng thì Tòa án phải xem xét giải quyết các quan hệ pháp luật nêu trên, đưa bà Nguyễn Ngọc Thanh T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trường hợp, Tòa án không hủy kết quả bán đấu giá tài sản, không hủy việc cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cần phải buộc Ngân hàng trả lại giá trị nhà đất cho bà T sau khi trừ đi số tiền nợ gốc, lãi và các khoản phát sinh khác (nếu có). Ngoài ra, bà T có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, về thu nhập bị mất, tiền thuê nhà nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ nhận định đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản mà chưa nhận định, đánh giá chứng cứ đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về thu nhập bị mất và tiền thuê nhà. Các vấn đề trên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại vụ án là đúng quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc Tòa án cấp phúc thẩm vận dụng “Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2015” trong khi Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ có 689 điều luật là có sự nhầm lẫn nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án. Vì vậy, quyết định kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của bà T là đúng quy định của pháp luật và Tòa án cấp phúc thẩm vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, có thiếu sót, sai lầm trong việc xem xét, đánh giá tài liệu chứng cứ, là không có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337, khoản 1 Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 251/QĐ-VKS-DS ngày 30/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2024/DS-PT ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về vụ án “Tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài

sản” giữa nguyên đơn bà Hà Thị T với bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Nơi nhận:

  • - Chánh án TANDCC tại TP. HCM (để báo cáo);
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (kèm hồ sơ vụ án);
  • - Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: Phòng LTHS, HS, THS (TTKY).

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thiện

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 08/2025/DS-GĐT ngày 15/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản.

  • Số quyết định: 08/2025/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản.
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337, khoản 1 Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; 1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 251/QĐ-VKS-DS ngày 30/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 08/2024/DS-PT ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về vụ án “Tranh chấp về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa nguyên đơn bà Hà Thị Thiệp với bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Lâm Đồng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. 3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger