|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 07/2024/QÐST-HNGĐ |
Nghệ An, ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Từ.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/9/2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18/9/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- • Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- + Chị Chu Thị T, sinh năm 1982; Địa chỉ trước xuất cảnh: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ hiện nay: Karl - M-Allee139, 10243 B, Cộng hòa liên bang Đ. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- + Anh Trần Duy C, sinh năm 1976; Địa chỉ trước xuất cảnh: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ hiên nay: Karl - M-Allee139, 10243 B, Cộng hòa liên bang Đ. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chu Văn T1, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; Địa chỉ: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn trình bày và đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con (có chứng thực của Đ1 tại CHLB Đ), người yêu cầu là chị Chu Thị T và anh Trần Duy C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/11/2001 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng khá hạnh phúc, tuy nhiên mẫu thuẫn bắt đầu phát sinh không lâu sau đó và ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung. Năm 2008, anh C đi xuất khẩu lao động tại Nga; năm 2022, chị T cũng xuất cảnh đi lao động tại Ba Lan. Vợ chồng mỗi người một nơi lâu ngày, không có cơ hội hàn gắn. Vì để cho nhau cơ hội gần gũi, hàn gắn mâu thuẫn anh C, chị T quyết định cùng chuyển qua Đ để sinh sống, làm việc. Tuy nhiên, ở gần nhau mâu thuẫn không những không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T, anh C đều yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Văn C1 có 03 con chung là cháu Trần Duy M, sinh ngày 19/7/2003; cháu Trần Huy T2, sinh ngày 03/7/2006 và cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 17/02/2008. Cháu M và cháu T2 đã trưởng thành, có công việc và cuộc sống riêng nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn cháu Như Ý hiện đang sống với ông bà ngoại là ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L. Ly hôn, chị T và anh C1 thỏa thuận giao cháu Trần Ngọc Như Ý cho chị Chu Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T ở nước ngoài anh chị thống nhất nhờ ông bà ngoại là ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L chăm sóc cháu như Ý cho đến khi chị T về Việt Nam.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C hiện đang cư trú và làm việc tại Cộng hòa liên bang Đ2, không có điều kiện về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn nên chị T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H, địa chỉ: xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và anh C ủy quyền cho ông Phạm Tô Đan T3, địa chỉ: xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giao, nhận các văn bản của Tòa án và nộp lệ phí. Đồng thời, chị T và anh C đều đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của chị Chu Thị T. Chị T kết hôn với anh Trần Duy C ngày 26/11/2001. Hiện nay, chị T và anh C đang sinh sống và làm việc tại CHLB Đ. Việc ly hôn của anh chị là do anh chị quyết định. Chị T và anh C có 03 con chung là cháu Trần Duy M, Trần Huy T2 và Trần Ngọc Như Ý. Cháu M và cháu T2 đã trưởng thanh, có công việc và cuộc sống riêng. Cháu Như Ý hiện đang ở với ông bà. Nay, chị T và anh C ly hôn, anh chị có nguyện vọng nhờ ông bà tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Như Ý cho đến khi chị T về Việt Nam thì ông bà đồng ý. Ông bà không yêu cầu chị T và anh C thanh toán chi phí nuôi dưỡng cháu. Do điều kiện, hoàn cảnh ông bà không thể tham gia phiên họp được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Cháu Trần Ngọc Như Ý trình bày: Cháu là con của bố Trần Duy C và mẹ là Chu Thị T. Hiện nay bố mẹ đang ở CHLB Đ. Cháu sống với ông bà ngoại là ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, mẹ đang ở nước ngoài nên cháu muốn sống với ông bà ngoại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị T và anh Trần Duy C. Về con chung: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận nuôi con của các đương sự, cháu Trần Duy M và Trần Huy T2 đã đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên không giải quyết. Chị T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Như Ý đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị T đang ở nước ngoài nên ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Như Ý cho đến khi chị T về Việt Nam. Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C không yêu cầu nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Chị T và anh C phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C hiện đang cư trú tại Cộng hòa liên bang Đ có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con được Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ xác nhận; trước khi xuất cảnh, chị T và anh C đều có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Chu Thị T, anh Trần Duy C, ông Chu Văn T1, bà Phạm Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 26/11/2001, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, chị T và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Chu Thị T và anh Trần Duy C là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị T và anh Trần Duy C.
[4] Về con chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C có 03 con chung là cháu Trần Duy M, sinh ngày 19/7/2003; cháu Trần Huy T2, sinh ngày 03/7/2006 và cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 17/02/2008. Cháu M và cháu T2 đã trưởng thành, có công việc và cuộc sống riêng nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn cháu Như Ý hiện đang sống với ông bà ngoại là ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L. Ly hôn, chị T, anh C thỏa thuận giao cháu Trần Ngọc Như Ý cho chị Chu Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T ở nước ngoài, ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L nhận trách nhiệm chăm sóc cháu Như Ý cho đến khi chị T về Việt Nam. Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Tòa án công nhận.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Chu Thị T, ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[6] Về lệ phí: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84, 104, 122, 123, 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 149, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 370, 371, 469, 478 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam; Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị T và anh Trần Duy C.
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- - Về con chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C có 03 con chung là cháu Trần Duy M, sinh ngày 19/7/2003; cháu Trần Huy T2, sinh ngày 03/7/2006 và cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 17/02/2008.
- + Cháu Trần Duy M và cháu Trần Huy T2 đã đủ 18 tuổi, trưởng thành nên Tòa án không giải quyết;
- + Giao cho chị Chu Thị T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 17/02/2008 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị T đang ở nước ngoài nên giao cháu Như Ý cho ông Chu Văn T1 và bà Phạm Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị T về Việt Nam.
- + Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Chu Thị T, ông Chu Văn T1, bà Phạm Thị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- + Sau khi ly hôn, anh Trần Duy C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị T và anh Trần Duy C không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Chu Thị T phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013154 ngày 16/9/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị T 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng lệ phí còn lại.
Anh Trần Duy C phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thu Từ |
Quyết định số 07/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Số quyết định: 07/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận TTLH, thỏa thuận nuôi con Chu Thị T, Trần Duy C
