|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 07/2022/QĐST-HNGĐ |
Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Đào- Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết– Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 156/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2022/QĐ-ST ngày 14/01/2022, giữa các đương sự:
- Đương sự thứ nhất: Anh Phạm Hoài S, sinh ngày: 20/5/1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị giải quyết vắng mặt;
- Đương sự thứ hai: Chị Hoàng Thị Ngọc T, sinh ngày: 05/3/1996, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Nhật Bản, đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo yêu cầu giải quyết việc ly hôn của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc Hôn nhân gia đình có nội dung:
Anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T đăng ký kết hôn năm 2016, tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, theo số đăng ký số 05/2016, ngày 18/02/2016. Hai bên gia đình tổ chức lễ cưới công khai theo phong tục địa phương, chung sống tại xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Đời sống hôn nhân hòa thuận, hạnh phúc và có 01 con chung. Năm 2019, chị T đi lao động tại Nhật Bản. Từ đó, giữa hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do khác biệt về quan điểm, lối sống, không tin tưởng dẫn đến không còn sự quan tâm. Vợ chồng ly thân từ năm 2019, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Phạm Hoài S khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Ngọc Gia H, sinh ngày: 28/8/2016. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho anh Phạm Hoài S trực tiếp nuôi dưỡng; vợ chồng tự thỏa thuận mức cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phạm Hoài S ủy quyền giao nhận tài liệu, văn bản tố tụng cho anh trai là Phạm Hoài Nam, địa chỉ: Thôn 2, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết việc Hôn nhân gia đình, chị Hoàng Thị Ngọc T đã gọi điện (ghi âm, ghi hình) trình bày ý kiến liên quan đến nội dung anh Phạm Hoài S khởi kiện như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nội dung anh Phạm Hoài S đã trình bày trong đơn khởi kiện. Do khoảng cách địa lý xa xôi, không tin tưởng, phát sinh bất đồng quan điểm nên đời sống hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy, chị Hoàng Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Về con chung, chị T thống nhất giao con chung cho anh Phạm Hoài S nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do dịch Covid-19, chị T không về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ cụ thể tại Nhật Bản, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, ủy quyền giao nhận tài liệu cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Ng, địa chỉ: Xóm N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau và đề nghị Hội đồng giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự; công nhận thuận tình ly hôn của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T, công nhận sự thỏa thuận nuôi con chung giữa hai vợ chồng: Giao con chung Phạm Ngọc Gia H, sinh ngày: 28/8/2016 cho anh Phạm Hoài S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thẩm phán giải quyết việc Hôn nhân gia đình nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại Công văn số 30772/QLXNC-P5 ngày 14/12/2021 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an thể hiện “Chị Hoàng Thị Ngọc T đã xuất nhập cảnh 01 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 27/3/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2] Anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[1.3] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình làm việc, chị Hoàng Thị Ngọc T trình bày thống nhất với toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Hoài S, không tranh chấp. Do đại dịch Covid-19, chị T không về Việt Nam để giải quyết việc hôn nhân gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Nguyệt, địa chỉ: Xóm N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho chị T thông qua người được ủy quyền và chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”.
[1.4] Anh Phạm Hoài S có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ Điều 205, 207, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 02/2022/TB-TA ngày 04/01/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.
[1.5] Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[1.6] Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1.1] Hôn nhân giữa anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T được xây dựng trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.1.2] Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 con chung. Mâu thuẫn phát sinh khi chị Hoàng Thị Ngọc T đi làm việc tại Nhật Bản, vợ chồng không tin tưởng, bất đồng quan điểm, ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy thời gian xa cách lâu ngày, tình cảm vợ chồng không được vun đắp, xây dựng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
[2.1.3] Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
[2.1.4] Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Ngọc T và anh Phạm Hoài S không còn. Vợ chồng không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của anh S, chị T như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T: Giao con chung Phạm Ngọc Gia H, sinh ngày: 28/8/2016 cho anh Phạm Hoài S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3] Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận thuận tình ly hôn của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[4] Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 146, 147, 361, 362, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của anh Phạm Hoài S, sinh ngày: 20/5/1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh và chị Hoàng Thị Ngọc T, sinh ngày: 05/3/1996, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã S, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Nhật Bản.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của anh Phạm Hoài S và chị Hoàng Thị Ngọc T: Giao con chung Phạm Ngọc Gia H, sinh ngày: 28/8/2016 cho anh Phạm Hoài S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Chị Hoàng Thị Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận sự tự nguyện nộp tiền lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng của anh Phạm Hoài S theo biên lai số 0000079 ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bích Đào |
Quyết định số 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/01/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 07/2022/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/01/2022
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định việc dân sự Phạm Hoài S - Hoàng Thị Ngọc T
