|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 06/2025/QĐ-TA |
Tp Bắc Giang, ngày 03 tháng 2 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ánh Dương.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Ngày 03/2/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 11/QĐ-TA ngày 22/1/2025 đối với:
Họ và tên: Anh Trịnh Quang N, sinh năm 1980; giới tính: Nam; Cư trú: Số nhà D, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Số CCCD [...], do Bộ C cấp ngày 25/6/2021; Nghề nghiệp: Không; con ông Trịnh Quang T và bà Hoàng Thị N1.
Những người tham gia phiên họp:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Bá L – Chức vụ: Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do Lê Trần P – Chuyên viên phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bắc Giang – Là đại diện theo ủy quyền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Bà Nguyễn Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.
- Những người khác tham gia phiên họp: Anh Trịnh Quang N (vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình ngày 11/1/2025 và các lời khai tiếp theo, anh Trịnh Quang N khai: Anh N bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2000. Anh N phải chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số: 79/QĐ-UBND ngày 12/7/2024 của UBND phường H với thời hạn từ ngày 12/7/2024 đến ngày 12/7/2026. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 15/1/2025 của Trạm Y tế phường H xác định anh N nghiện ma túy Heroin. Ngày 16/1/2025, anh N bị Ủy ban nhân dân phường H lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Quá trình làm việc, anh N khai nhận sử dụng ma túy từ năm 2000. Anh N phải chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số: 79/QĐ-UBND ngày 12/7/2024 của UBND phường H với thời hạn từ ngày 12/7/2024 đến ngày 12/7/2026. Ngày 16/1/2025, anh N bị Ủy ban nhân dân phường H lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B giữ nguyên đề nghị xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trịnh Quang N là 20 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Hồ sơ đảm bảo thủ tục, đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật và đề nghị đưa anh Trịnh Quang N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng lao động - Thương binh xã hội thành phố B từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bắc Giang lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trịnh Quang N do trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản làm việc đối với anh Trịnh Quang N lập ngày 14/1/2025, do anh N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 21/1/2025 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với anh Trịnh Quang N đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B thấy: Anh Trịnh Quang N là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng. Anh N phải chấp hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số: 79/QĐ-UBND ngày 12/7/2024 của UBND phường H với thời hạn từ ngày 12/7/2024 đến ngày 12/7/2026. Ngày 16/1/2025, anh N bị Ủy ban nhân dân phường H lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Chứng tỏ, anh Trịnh Quang N là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của anh N là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Anh Trịnh Quang N đã vi phạm: khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; khoản 1 khoản 16 Điều 2; khoản 1 Điều 96; điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020. Để anh Trịnh Quang N cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B và đại diện Viện kiểm sát, đưa anh Trịnh Quang N đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang với thời hạn là 20 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc, anh Trịnh Quang N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết tăng nặng: Quyết định số 01 ngày 03/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đổi với Trịnh Quang N, chấp hành xong ngày 18/6/2024 nên cần áp dụng tình tiết tăng nặngtrách nhiệm hành chính tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022;
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A Trịnh Quang N, sinh năm 1980; cư trú: Số nhà D, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện.
Nơi chấp hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang; Địa chỉ: Số I, đường T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Thời hạn khiếu nại của anh Trịnh Quang N là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định; Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố B là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố B phối hợp với Công an thành phố B thi hành quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Ánh Dương |
Quyết định số 06/2025/QĐ-TA ngày 03/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 06/2025/QĐ-TA
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/02/2025
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định cai nghiện Trịnh Quang N
