TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 06/2024/QÐST-HNGĐ | Bắc Sơn, ngày 06 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ hôn nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Công Đức.
Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 125/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân theo Quyết định mở phiên họp số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1984.
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Văn M, sinh năm 1984
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn Đ – Phó chủ tịch của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. (Theo giấy ủy quyền số 21/UQ-UBND ngày 08 tháng 11 năm 2024), vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, quá trình tố tụng người yêu cầu chị Hoàng Thị T trình bày:
Chị Hoàng Thị T kết hôn với anh Dương Văn M vào năm 2003, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo giấy chứng nhận đăng kí kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003. Tuy nhiên tại thời điểm đăng kí kết hôn chồng chị T là anh Dương Văn M, sinh ngày 26/9/1984 chưa đủ tuổi kết hôn. Tại thời điểm đó do anh, chị thiếu hiểu biết pháp luật nên đã khai anh Dương Văn M, sinh ngày 26/9/1983 để đăng kí kết hôn, chị T và anh M cũng không biết mình chưa đủ tuổi để đăng kí kết hôn theo quy định. Tuy nhiên lúc đó Cán bộ Tư pháp xã T vẫn đăng kí kết hôn cho chị T và anh M. Trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Nay nhận thấy việc đăng kí kết hôn là trái quy định của pháp luật, do đó chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M (yêu cầu hủy giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn), đồng thời yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M kể từ thời điểm anh Dương Văn M đủ điều kiện kết hôn theo quy định.
Quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh M sống hòa thuận, hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì. Vợ chồng có 03 người con chung con thứ nhất tên là Dương Thị Hà Như N, sinh ngày 05/12/2003; con thứ hai là Dương Âu Kỳ V, sinh ngày 12/7/2008 và con thứ ba sinh ngày 31/8/2004 (chưa khai sinh). Do chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân cho hai vợ chồng nên về con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn M trình bày:
Anh Dương Văn M kết hôn với chị Hoàng Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003. Tại thời điểm kết hôn vợ chồng anh, chị có đến Ủy ban nhân dân xã T đăng ký kết hôn, anh cũng không biết mình chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn do trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, tuy nhiên vợ chồng anh vẫn được Ủy ban nhân dân xã T đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị sống hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nay chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị T và anh M (Yêu cầu hủy giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn), đồng thời yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M là hợp pháp thì anh Dương Văn M cũng nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 người con chung con thứ nhất tên là Dương Thị Hà Như N, sinh ngày 05/12/2003; con thứ hai tên là Dương Âu Kỳ V, sinh ngày 12/7/2008 và con thứ ba sinh ngày 31/8/2004 (chưa khai sinh). Do anh M nhất trí hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, người đại diện theo ủy quyền ông Dương Văn Đ có ý kiến như sau:
Qua xem xét hồ sơ, trình tự thủ tục liên quan đến việc đăng ký kết hôn giữa chị Hoàng Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và anh Dương Văn M, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thì trong sổ số 01 sổ đăng ký kết hôn năm 1999 thì chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M đăng ký kết hôn tại số 24/2003 ngày 27/8/2003 do Ủy ban nhân dân xã T thì anh Dương Văn M, sinh ngày 26/9/1983, còn chị Hoàng Thị T, sinh ngày 19/12/1983. Theo giấy khai sinh và căn cước công dân thì anh Dương Văn M, sinh ngày 26/9/1984 do cán bộ công chức Tư pháp không kiểm tra kỹ các giấy tờ của anh Dương Văn M và chị Hoàng Thị T khi đến làm thủ tục đăng ký kết hôn mà chỉ căn cứ vào lời khai đã đăng ký kết hôn không đúng với tuổi thực tế của anh Dương Văn M. Hiện nay UBND xã không còn lưu trữ được hồ sơ nên không có tài liệu gì thêm ngoài sổ đăng ký kết hôn.
Ủy ban nhân dân xã T nhất trí với yêu cầu của chị Hoàng Thị T về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M (Hủy giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn), đồng thời yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn tham gia phiên họp có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, được xem xét làm rõ tại phiên họp nhận thấy yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận: Tuyên hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M kể từ ngày 26/9/2004, là ngày anh Dương Văn M đủ 20 (hai mươi) tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: 03 người con chung con thứ nhất tên là Dương Thị Hà Như N, sinh ngày 05/12/2003; Dương Âu Kỳ V, sinh ngày 12/7/2008 và con thứ ba sinh ngày 31/8/2004 (chưa khai sinh), do chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân cho hai anh chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Về lệ phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong Hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [2] Về nội dung vụ việc:
- [3] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
- [4] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 17/10/2024 thì chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân được xác lập kể từ thời điểm anh Dương Văn M đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 3; Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi xem xét, giải quyết yêu cầu liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật thì Tòa án phải căn cứ vào quy định của Pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật không”. Chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M kết hôn vào ngày 27/8/2003 nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để xem xét giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: Xét đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Hoàng Thị T thấy rằng: Chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003.
Tại các tài liệu do người yêu cầu cung cấp bao gồm: Giấy khai sinh; Sổ hộ khẩu; giấy chứng nhận kết hôn; căn cước công dân; bản tự khai; căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự xác định ngày, tháng, năm sinh chính xác của anh Dương Văn M là ngày 26/9/1984. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ việc các đương sự đã thừa nhận do thiếu hiểu biết pháp luật nên đã đi đăng ký kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn (ngày 27/8/2003) anh Dương Văn M mới 18 tuổi 11 tháng 01 ngày là chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Do đó, chị Hoàng Thị T yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu của chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm chị T, anh M đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thấy rằng: Căn cứ khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.” Đồng thời, căn cứ hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “a, Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên có đủ điều kiện kết hôn.” Thời điểm anh Dương Văn M đủ điều kiện kết hôn theo quy định là khi anh Dương Văn M đủ 20 (hai mươi) tuổi. Do đó, cần công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M được xác lập kể từ ngày 26/9/2004. Về con chung: Có 03 người con chung con thứ nhất tên là Dương Thị Hà Như N, sinh ngày 05/12/2003; Dương Âu Kỳ V, sinh ngày 12/7/2008 và con thứ ba sinh ngày 31/8/2004 (chưa khai sinh), do chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, không yêu cầu xem xét về con chung nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 15, Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hoàng Thị T:
Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2003 ngày 27/8/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M được xác lập kể từ ngày anh Dương Văn M đủ tuổi kết hôn, ngày 26 tháng 9 năm 2004.
Chị Hoàng Thị T và anh Dương Văn M có quyền, trách nhiệm đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
- Về lệ phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004184 ngày 29/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận chị Hoàng Thị T đã nộp đủ số tiền lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cung cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Công Đức |
Quyết định số 06/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ hôn nhân
- Số quyết định: 06/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ hôn nhân
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy kết hôn trái PL và công nhận quan hệ hôn nhân
