Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HÒA

TỈNH NGHỆ AN

Số: 06/2024/QÐST-DS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thái Hòa, ngày 01 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào các Điều 26; 48; 212; 213 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 điều 212, Điều 219, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613; Điều 623; Điều 650; Điều 651- Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Dân sự thụ lý số: 81/2023/TLST- DS ngày 17 tháng 11 năm 2023.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
    • Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh T, sinh năm: 1972
    • Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
    • Người đại diện theo uỷ quyền cho nguyên đơn:
    • Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1974
    • Trú tại: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
    • Bị đơn: Anh Võ Hữu K, sinh năm 1965
    • Trú tại: xóm D, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An
    • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Võ Minh C, sinh năm 1961
    • Trú tại: K, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An
    • - Chị Võ Thị H, sinh năm 1969
    • Trú tại: K, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An;
    • - Chị Cao Thị K1, sinh năm 1968
    • Trú tại: xóm Du Thịnh, xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An
  2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

    2.1. Nguyên đơn chị Võ Thị Thanh T và người đại diện theo uỷ quyền cho nguyên đơn là anh Nguyễn Văn S, bị đơn anh Võ Hữu K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh C, chị Võ Thị H, chị Cao Thị K1 đều thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản chung và di sản thừa kế đối với tài sản là thửa đất số 06, tờ bản đồ số 32, có diện tích là 1656m² (nay là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 38, diện tích là 1454,7m²), trong đó diện tích đất ở: 300m²; diện tích đất vườn là: 1154,7m², đất đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 654177, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số:1378B, ngày 01/8/1997 cho gia đình bà Nguyễn Thị H1, địa chỉ thửa đất thuộc xóm Đ, xã Đ, huyện N nay là xóm D, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An như sau:

    Giao cho chị Võ Thị Thanh T được sử dụng diện tích đất 402,9m² (trong đó 80 m² đất ở và 322,9m² đất vườn) có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường có cạnh dài 12,33m và 2,31m; Phía Nam giáp đường dài 13,35m; Phía Tây giáp đường có chiều dài các cạnh 17,39m, 6,36m, 6,47m; phía Đông giáp phần diện tích đất chia cho chị H dài 31,22m. (Có 0,1m²; 16,1m² và 8,7m² đất trên bản đồ thuộc thửa 27 hiện trạng thuộc đất giao thông; có 39,0m² đất trên bản đồ thuộc đất giao thông, hiện trạng thuộc gia đình sử dụng); Phần diện tích chị T được hưởng có trị giá 120.467.900 đồng (một trăm hai mươi triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn, chín trăm đồng);

    Giao cho chị Võ Thị H được quyền sử dụng phần diện tích đất là 155,4m² (trong đó 80m² đất ở, 75,4m² đất vườn) có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường dài 5m (có 3,8m² trên bản đồ thuộc thửa 27 hiện trạng thuộc đất giao thông); Phía Nam giáp đường dài 5m; Phía Tây giáp phần diện tích đất chia cho chị T dài 31,22m; phía Đông giáp phần diện tích đất chia cho anh K dài 30,91m. Trên đất có tường rào dài 31m do anh K và chị K1 xây dựng. Chị H đồng ý thanh toán lại cho anh K, chị K1 số tiền xây tường rào trên là 5.000.000đ (hai bên đã giao nhận đủ tiền); Phần diện tích đất và tường rào chị H được hưởng trị giá 112.845.400đ (Một trăm mười hai triệu, tám trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng);

    Giao cho anh Võ Hữu K và chị Cao Thị K1 được quyền sử dụng diện tích đất là 896,4m² (trong đó 140m² đất ở, 756,4m² đất vườn) có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường dài 30,15m (có 25,5m² đất trên bản đồ thuộc thửa 27 hiện trạng thuộc đất giao thông); Phía Nam giáp đường dài 29,94m; Phía Tây giáp phần diện tích đất chia cho chị H dài 30,91m; phía Đông giáp thửa đất số 22 tờ bản đồ số 38 dài 28,81m. (Bao gồm diện tích đất anh K, chị K1 được hưởng từ việc chia tài sản chung, chia thừa kế và nhận tặng cho từ ông Võ Minh C). Anh K và chị K1 được nhận số tiền 5.000.000đ tiền xây tường rào do chị H giao lại (hai bên đã giao nhận đủ). Phần diện tích đất anh K và chị K1 được hưởng từ chia tài sản chung và chia thừa kế có trị giá là 125.317.900đ (một trăm hai mươi lăm triệu, ba trăm mười bảy nghìn chín trăm đồng);

    Giao cho anh K, chị K1 được tiếp tục sử dụng toàn bộ tài sản trên đất được phân chia gồm có: Một ngôi nhà cấp 4 xây năm 1991 gồm 02 gian, 01 lồi. Một nhà bếp liền kề nhà chính; 01 nhà tắm, nhà vệ sinh, 01 bể phốt; 01 bếp củi; 01 chuồng gà, 01 chuồng bò; 02 giếng nước, 01 bể nước ống cống; mái tôn trước nhà, sân lát gạch hoa, 02 cánh cổng sắt hộp, 02 trụ cổng; Bờ tường rào xây bằng gạch, bờ tường rào xây bằng táp lô và toàn bộ cây cối trong vườn.

    2.2. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản:

    Chị Võ Thị Thanh T, chị Võ Thị H thỏa thuận mỗi người chịu 1.950.000đ (một triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng); Anh K và chị K1 thỏa thuận chịu 1.950.000₫ (một triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng). Chị T, anh K, chị K1 và chị H đã nộp đủ số tiền trên.

    2.3. Về án phí: Các đương sự thỏa thuận như sau:

    Chị Võ Thị Thanh T thỏa thuận chịu 3.011.700đ (Ba triệu, không trăm mười một ngàn, bảy trăm đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006770 ngày 17/11/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa. Trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí 2.255.800đ (Hai triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn, tám trăm đồng). Chị Võ Thị H thỏa thuận chịu số tiền 2.821.100đ (Hai triệu, tám trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm đồng);

    Chị Cao Thị K1 và anh Võ Hữu K thỏa thuận chịu số tiền 3.132.900₫ (Ba triệu, một trăm ba mươi hai nghìn chín trăm đồng);

    Chị Võ Thị Thanh T, anh Võ Hữu K, chị Cao Thị K1 và chị Võ Thị H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia tài sản chung và chia thừa kế theo quy định của pháp luật về đất đai.

  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
  4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN

Thái Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 06/2024/QÐST-DS ngày 01/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN về phân chia tài sản chung và di sản thừa kế

  • Số quyết định: 06/2024/QÐST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Phân chia tài sản chung và di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản chung - tài sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger