Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

Số: 06/2024/QÐST-VHNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tịnh Biên, ngày 20 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phí Thị Phương Nhung;

Thư ký phiên họp: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên họp: Ông Đặng Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-VHNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2024/QÐST-VHNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị H, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ E, khóm B, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết); nơi cư trú trước khi chết: khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 04-4-2024, bà Trần Thị H trình bày: Cha mẹ bà là ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết năm 1970) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1942 (chết năm 2019). Quá trình chung sống, ông T, bà C có 02 người con là Trần Văn Đ, sinh năm 1963 và Trần Thị H, sinh năm 1966. Khi cha còn sống, gia đình bà sinh sống tại ấp V, thị trấn C, huyện C, đến khi cha chết, mẹ đưa các con về quê ngoại ở khóm B, thị trấn C, huyện T (nay là phường C, thị xã T) sinh sống.

Năm 2021, khi thực hiện thủ tục làm căn cước công dân bà có đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân thị trấn C và được cấp giấy khai sinh số 107, ngày 01/4/2021; tuy nhiên, giấy khai sinh của bà không có thông tin họ tên cha. Nay, bà có nhu cầu làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đất đai nên bà yêu cầu Tòa án xác định ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết ngày 21-9-1970) là cha ruột của bà.

Tại phiên họp, bà Trần Thị Hoàng giữ nguyên yêu cầu Toà án xác định ông Trần Văn T là cha ruột để bà cùng các thành viên khác trong gia đình có thể thực hiện thủ tục khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản là nền đất của cha, mẹ chết để lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Thẩm phán được phân công giải quyết việc hôn nhân gia đình thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

Hội đồng giải quyết việc dân sự, tiến hành phiên họp sơ thẩm đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 369 BLTTDS.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTDS.

Về việc giải quyết vụ việc: Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở để xác định ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết ngày 21-9-1970) là cha ruột của bà Trần Thị H. Đề nghị Toà án căn cứ Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các Điều 29, 92, 363, 366, 369, 370, 371 và 372 BLTTDS chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H; tuyên bố ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết ngày 21-9-1970) là cha ruột của bà Trần Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Trần Thị H có đơn yêu cầu Toà án xác định cha cho con; đồng thời, bà Trần Thị H có nơi cư trú tại phường C, thị xã T nên thuộc thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 BLTTDS.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà Trần Thị H về việc yêu cầu Tòa án xác định ông Trần Văn T, sinh năm 1933 (chết ngày 21-9-1970) là cha ruột, thấy rằng:

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 24-4-2024, ông Trần Văn Đ (con trai ruột của ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị C) xác nhận bà Trần Thị H là con ruột của ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị C và là anh ruột của bà H.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24-4-2024, bà Đoàn Thị Ánh H1, sinh năm 1946 là người dân sinh sống lâu năm ở địa phương có lời khai xác định bà Trần Thị H là con ruột của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị C và là em ruột của ông Trần Văn Đ. Ông Trần Văn T chung sống với bà Nguyễn Thị C có 02 người con là: Trần Văn Đ và Trần Thị H; ngoài ra, ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị C không có vợ, chồng nào khác và không có con riêng.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã T ngày 24-4-2024 cho biết: Bà Trần Thị H có đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phường C, bà Trần Thị H có mẹ là bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1942 và không có tên cha trong giấy khai sinh; việc không có thông tin cha trong giấy khai sinh của bà Trần Thị H là do lúc đăng ký khai sinh bà Trần Thị H không cung cấp thông tin cha và đồng ý cấp giấy khai sinh không có họ tên cha.

Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để xác định giữa ông Trần Văn T và Trần Thị H có quan hệ huyết thống là cha con nên yêu cầu xác định cha cho con của bà Trần Thị H là có căn cứ, phù hợp pháp luật được quy định tại Điều 90 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cũng như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp nên được chấp nhận.

[3] Về lệ phí sơ thẩm: Bà Trần Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 29, 92, 369, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 90; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H về việc xác định cha cho con.

2. Xác định: Ông Trần Văn T, sinh năm 1933; nơi cư trú trước khi chết: khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (chết ngày 21-9-1970 theo trích lục khai tử số 1631/2023/TLKT-BS ngày 23-11-2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang) là cha ruột của bà Trần Thị H, sinh ngày 01-01-1966; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 25-4-2021; nơi thường trú: tổ E, khóm B, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang.

Bà Trần Thị H có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để thực hiện cải chính hộ tịch theo quy định.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010837 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang; bà Trần Thị H đã nộp đủ lệ phí.

4. Bà Trần Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tịnh Biên;
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên;
  • - UBND phường Chi Lăng;
  • - Người yêu cầu;
  • - Lưu hồ sơ việc dân sự, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(Đã ký)

Phí Thị Phương Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 06/2024/QÐST-VHNGĐ ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về yêu cầu xác định cha cho con

  • Số quyết định: 06/2024/QÐST-VHNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Hoàng về việc xác định cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger