Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Số: 06/2022/QÐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Đình Thông - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 134/2021/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” giữa các đương sự:

  • - Đương sự thứ nhất: Chị Trần Thị V, sinh ngày: 16/5/1989, nơi đăng ký HKTT: Xóm TT, xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh, yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  • - Đương sự thứ hai: Anh Trần V, sinh ngày: 10/4/1984, nơi đăng ký HKTT: Xóm TT, xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại TL, yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo yêu cầu giải quyết việc ly hôn của chị Trần Thị V và anh Trần V, cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc Hôn nhân gia đình có nội dung:

Chị Trần Thị V và anh Trần V đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh; theo số đăng ký số 12/13, quyển số 01/13, ngày 24/01/2013. Hai bên gia đình tổ chức lễ cưới công khai theo phong tục địa phương, chung sống tại xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh. Đời sống hôn nhân hòa thuận, hạnh phúc và có 02 con chung. Năm 2019, anh Trần V đi lao động tại TL. Từ đó, giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khác biệt về quan điểm, lối sống, không tin tưởng dẫn đến không còn quan tâm đến nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2019, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Trần Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn.

2

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Long Nhật M, sinh ngày: 18/6/2016 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày: 06/11/2017. Vợ chồng thống nhất giao hai con chung cho chị Trần Thị V nuôi dưỡng, anh V đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng, các đương sự tự thỏa thuận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết việc Hôn nhân gia đình, anh Trần V đã gọi điện (ghi âm, ghi hình) trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Trần Thị V khởi kiện như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nội dung chị Trần Thị V đã trình bày trong đơn khởi kiện. Do khoảng cách địa lý xa xôi, không tin tưởng, phát sinh bất đồng quan điểm nên đời sống hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Tuy nhiên, chị V khởi kiện ly hôn thì tự chịu trách nhiệm, anh không níu kéo cũng không tranh chấp. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh Trần V thống nhất giao hai con chung cho chị Trần Thị V nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau và đề nghị Hội đồng giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự; công nhận thuận tình ly hôn của chị Trần Thị V và anh Trần V, công nhận sự thỏa thuận nuôi con chung giữa hai vợ chồng: Giao con chung Trần Long Nhật M, sinh ngày: 18/6/2016 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày: 06/11/2017 cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Trần Thị V và anh Trần V, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thẩm phán giải quyết việc Hôn nhân gia đình nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại Công văn số 30772/QLXNC-P5 ngày 14/12/2021 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an thể hiện “Anh Trần V đã xuất nhập cảnh 29 lần, xuất cảnh gần nhất ngày

3

08/10/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Trần Thị V, anh Trần V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2] Chị Trần Thị V và anh Trần V đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[1.3] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình làm việc, anh Trần V trình bày thống nhất với toàn bộ yêu cầu của chị Trần Thị V, không tranh chấp. Do đại dịch Covid-19, anh V không về Việt Nam để giải quyết việc hôn nhân gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho cha đẻ là ông Trần C, địa chỉ: Xóm TT, xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Trần C thông qua người được ủy quyền và chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”.

[1.4] Chị Trần Thị V có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ Điều 205, 207, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 01/2022/TB-TA ngày 04/01/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.

[1.5] Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[1.6] Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1.1] Hôn nhân giữa chị Trần Thị V và anh Trần V được xây dựng trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

[2.1.2] Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 02 con chung. Mâu thuẫn phát sinh khi anh Trần V đi làm việc tại TL, vợ chồng không tin tưởng, bất đồng quan điểm, ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy thời gian xa cách lâu ngày, tình cảm vợ chồng

4

không được vun đắp, xây dựng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Trần Thị V và anh Trần V yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

[2.1.3] Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

[2.1.4] Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị V và anh Trần V không còn. Vợ chồng không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị V, anh V như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn của chị Trần Thị V và anh Trần V là đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Trần Thị V và anh Trần V: Giao con chung Trần Long Nhật M, sinh ngày: 18/6/2016 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày: 06/11/2017 cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[3] Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận thuận tình ly hôn của chị Trần Thị V và anh Trần V để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 146, 147, 361, 362, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Trần Thị V, sinh ngày: 16/5/1989, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm TT, xã ML,

5

huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh và anh Trần V, sinh ngày: 10/4/1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm TT, xã ML, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại TL.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Trần Thị V và anh Trần V: Giao con chung Trần Long Nhật M, sinh ngày: 18/6/2016 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày: 06/11/2017 cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

Anh Trần V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận sự tự nguyện nộp tiền lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng của chị Trần Thị V theo biên lai số 0000051 ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - Nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Bùi Đình Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 06/2022/QÐST-HNGĐ ngày 28/01/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 06/2022/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/01/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị V và anh Trần V yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger