Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-PT

Ngày: 24/01/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Vân.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho và ông Nguyễn Văn Long.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồ Huyền Trâm - Thư ký TAND tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Phương - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 24/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 04/2025/TLPT-HS ngày 14/01/2025 đối với các bị cáo A D, A M, do có kháng cáo của các bị cáo A D, A M đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TAND huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. A D, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2007 tại Kon Tum. Nơi cư trú: Làng K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 4/12. Dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: A N, sinh năm: 1958 và bà: Y H, sinh năm: 1964; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay (Có mặt).

    Tiền sự: 02 tiền sự. Ngày 01/11/2023, bị cáo bị Công an huyện S ra Quyết định số 32/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt 750.000 đồng; Ngày 11/12/2023, bị cáo bị Công an huyện S ra Quyết định số 39/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, xử phạt 1.250.000 đồng.

    Nhân thân: Ngày 05/07/2019, bị cáo có hành vi Trộm cắp tài sản, tại thôn A, thị trấn S, huyện S và bị Công an thị trấn S xử phạt nhắc nhở. Tại Bản án số 05/2024/HSST, ngày 27/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy xử phạt 06 (S) tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo. Bị cáo bị kết án khi chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích.

    • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo A D: Anh A Ư, trú tại: Làng K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
    • Người bào chữa cho bị cáo A D: Bà Đặng Thị Kim N1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).
  2. A M; sinh ngày 18 tháng 9 năm 2005 tại Kon Tum; Trú tại: Làng K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 7/12. Dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: A UL, sinh năm 1971 và bà: Y B: sinh năm: 1980; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay (Có mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo A C, bị hại anh Trần Văn H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh A H2, anh Ngô Khắc T không có kháng cáo, nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 00 giờ ngày 17/07/2024, trong khi ngồi chơi tại nhà A V (tên thường gọi: A Đ; sinh năm: 2001) thuộc làng K, thị trấn S, huyện S. A D nghe A M nói không có tiền mua đồ ăn nên đã gọi rủ A M, A C, cùng trú tại làng K, thị trấn S, đi trộm cắp tài sản. Mach, C đồng ý nên D nhờ V mượn xe mô tô nhãn hiệu “SUZUKI, loại xe “RAIDER”, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 82M1 - 107.69 của A H2. Sau khi mượn được xe, D đưa xe cho C điều khiển chở theo D, M đi theo Tỉnh lộ 675 từ thị trấn S đi thành phố K, tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực thuộc thôn B, xã S, huyện S, D nhìn thấy nhà anh Trần Văn H1, cửa nhà không khóa, trong nhà có ánh sáng đèn điện nên nói C dừng lại. C dừng xe cách nhà anh H1 khoảng 100 mét rồi D, M xuống xe, D nói với C: “Mày muốn đợi thì đợi không muốn đợi thì về trước, khi nào tao gọi thì quay lại đón tụi tao”, lúc này trời đang mưa và sợ người dân đi đường thấy nên C điều khiển xe mô tô quay về nhà V.

D và M đi bộ đến trước nhà anh H1, D nói với M: “Đứng ở đây, có người thì báo cho tao”, M trả lời: “Ừ”. Doa tiến sát về phía cổng nhà anh H1 để quan sát rồi nhặt 01 thanh sắt hình trụ tròn đặc, đường kính khoảng 10mm, dài khoảng 30cm với mục đích cạy cửa. Quan sát không có người, D trèo qua hàng rào lưới B40 vào khu vực sân trước nhà, đi vào phòng khách để tìm kiếm tài sản nhưng không có nên D tiếp tục đi đến phòng ngủ thì thấy anh H1 đang ngủ, phía trên thành giường có 01 điện thoại di động, nhãn hiệu “OPPO A58”, màu đen. Doa lấy điện thoại bỏ vào túi quần, quay sang lục túi áo treo trên tường và lấy được 360.000 đồng. Doa bỏ tiền vào túi quần bên phải rồi đi ra ngoài.

Trong khi D vào trong nhà anh H1 thì M đứng ở ngoài canh gác, được một lúc, lo sợ người dân xung quanh và người đi đường phát hiện nên đã núp vào bụi cỏ cách vị trí ban đầu 18,6m, sát đường Tỉnh lộ 675. Sau đó, do có tiếng chó sủa, sợ bị phát hiện nên M đi về hướng thị trấn S cách xa nhà anh H1 và ngồi bên mép đường đợi Doa. Sau khi lấy trộm được tài sản và đi ra ngoài, D vứt thanh sắt vào bụi cỏ ven đường, đi bộ về thị trấn S. Khi gặp M đang chờ, D lấy trong túi quần ra 01 điện thoại và số tiền vừa trộm cắp được và nói với M: “Mới trộm được để tiêu chung” rồi mượn điện thoại di động nhãn hiệu “VIVO”, màu trắng của M gọi cho C quay lại đón qua ứng dụng Messenger. Cả hai tiếp tục đi bộ về thị trấn S, khi đến khu vực rẫy cao su tiếp giáp giữa xã S và xã S, huyện S thì gặp C điều khiển xe mô tô đến, D nói với C là đã trộm được điện thoại và tiền. Sau khi về đến nhà, thấy V đang ngủ ở phòng trên nên C, D và M đi xuống khu vực bếp thì có A T1, A T2 đang ngồi chơi điện thoại, cả ba cùng ngồi xuống chơi. Sau đó D đã lấy 360.000đ trộm cắp được chia làm 02 lần (lần thứ nhất dùng 170.000đ, lần thứ hai 190.000₫) sử dụng để mua đồ ăn, thức uống, thuốc lá về cùng sử dụng chung với C, M, T1, T2 ở nhà V.

Điện thoại trộm cắp được không cài đặt mật khẩu nên D vào xóa toàn bộ dữ liệu, tháo thẻ sim và sử dụng. Đến sáng ngày 18/7/2024, D đăng nhập vào tài khoản mạng xã hội Facebook liên lạc với Ngô Khắc T để hỏi bán điện thoại cho T, T đồng ý nên hẹn gặp tại Cổng chào xã S, huyện S. Khoảng 09 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô BKS: 82M1 - 107.69 (mượn của H2) chở D đến chỗ hẹn, tại đây Doa bán cho T chiếc điện thoại với giá 1.200.000 đồng. Sau khi bán điện thoại, D đã dùng một phần tiền để mua đồ ăn, nước ngọt, thuốc hút để V, H2, C, M, T1, T2 cùng nhau sử dụng.

Ngày 02/8/2024, anh Trần Văn H1 đến Công an huyện S trình báo về việc bị mất tài sản. Cùng ngày, D, C, M bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, kiểu máy CPH2577, màu đen, mặt sau có dòng chữ “OPPO” và “INNOVATIVE AL CAMERA” có giá 3.830.163 đồng.

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy đã xét xử sơ thẩm và quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo A D, A M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 17, Điều 38; Điều 50, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58, các Điều 90, 91, 98 và Điều 101 BLHS; xử phạt bị cáo A D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày (02/8/2024).
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 38; Điều 50, các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo A M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày (02/8/2024)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/12/2024, các bị cáo A D, A M có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo A D xin rút kháng cáo; bị cáo A M giữ nguyên kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã tuyên và xin giảm hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 348, điểm b, khoản 1 Điều 355; Điều 357 BLTTHS; chấp nhận việc rút kháng cáo của bị cáo A D, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo A M và sửa bản án sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TAND huyện Sa Thầy theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 38; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 BLHS; Điều 328 BLTTHS, đề nghị xử phạt bị cáo A M 5 tháng 26 ngày tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • [1.1] Kháng cáo của các bị cáo A D, A M trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  • [1.2] Tại phiên tòa bị cáo A D xin rút đơn kháng cáo. Xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 348 BLTTHS, vì vậy HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo A D.

[2] Về nội dung vụ án:

  • [2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo A M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để khẳng định:

    Vào khoảng 00 giờ ngày 17/7/2024, tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Lợi dụng đêm tối và sơ hở của chủ sở hữu quản lý tài sản, A D thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà của anh Trần Văn H1 trộm cắp 01 điện thoại đi động và số tiền 360.000 đồng, A M và A C giúp sức cho A D thực hiện hành vi trộm cắp. Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 4.190.163 (Bốn triệu một trăm chín mươi nghìn một trăm sáu mươi ba) đồng. Hành vi của các bị cáo A D, A C, A M đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  • [2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo A M

    Bị cáo A M được A D rủ thực hiện hành vi trộm cắp và được phân công đứng ở ngoài cảnh giới. Vì vậy, bị cáo A M tham gia với vai trò là người giúp sức, để A D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

    Xét bị cáo A M là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; tham gia với vai trò giúp sức; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và khắc phục hậu quả, quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, HĐXX chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Áp dụng Khoản 1 Điều 54 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định cho bị cáo A M được hưởng.

    Từ những nhận định trên chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo. Xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam và trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Tại phiên tòa, HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo A D. Do đó, bị cáo A D không phải chịu án phí.

Do kháng cáo của bị cáo A M được chấp nhận nên bị cáo A M không phải chịu án phí.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo A D

    Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 09/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, có hiệu lực pháp lực đối với bị cáo về phần hình phạt.

  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

    Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo A M. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 09/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Sa Thầy về phần hình phạt.

    Xử: Tuyên bố bị cáo A M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 17; Điều 38; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 BLHS
    • Xử phạt bị cáo A M 05 tháng 26 ngày tù, thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    • Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo A M ngay tại phiên toà, nếu bị cáo không bị giam giữ về một tội phạm khác.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ các Đièu 135; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo A D, A M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/01/2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I, TANDTC.
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND, TAND, CSĐT;
  • THADS H.Sa Thầy;
  • - Phòng HSNV Công an T.Kon Tum;
  • - Trại tạm giam công an T.Kon Tum;
  • - Sở tư pháp T.Kon Tum;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 05/2025/HS-PT ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số quyết định: 05/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự phúc thẩm "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger