Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/QÐST- VHNGĐ

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

V/v Yêu cầu xác nhận cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan – Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số 04/2025/TLST-VHNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, về việc “Yêu cầu xác nhận cha cho con". Theo Quyết định mở phiên họp số 04/2025/QĐMPH-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

  • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989
  • Hộ chiếu số: P01707146 do Cục Q1 cấp ngày 09/3/2023
  • Địa chỉ thường trú trước khi đi nước ngoài: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
  • Địa chỉ hiện nay: Số B, ngõ B, phố T, cụm I, phường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt.
  • - Anh LAI, HUNG – WEI, sinh năm 1984
  • Hộ chiếu số: [...] do Bộ N1 (Đài Loan) cấp ngày 30/5/2024
  • Địa chỉ: Số B, ngõ B, phố T, cụm I, phường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1982
  • Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH:

- Người yêu cầu là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn K có đăng ký kết hôn ngày 17/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Minh N, sinh ngày 06/11/2018. Do anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, giữa tháng 4 năm 2023, chị sang Đài Loan sinh sống và làm việc, anh K ở Việt Nam chăm sóc cháu N, anh chị sống ly thân từ đó. Đến ngày 08/7/2024 anh chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 270/2024/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Trong quá trình sinh sống và làm việc tại Đài Loan, chị quen biết và phát sinh quan hệ tình cảm nam nữ với anh L, HUNG – WEI (sinh năm 1984; hộ chiếu số: [...]; địa chỉ: Số B, ngõ B, phố T, cụm I, phường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan); sau đó chị có thai với anh L, HUNG – WEI. Thời điểm đó chị và anh K đã sống ly thân, xác định chấm dứt mối quan hệ, chỉ đợi chị về Việt Nam để giải quyết ly hôn. Trong quá trình giải quyết ly hôn với anh K, chị và anh L, HUNG – WEI đã tiến hành xét nghiệm ADN tại Viện Công nghệ A và phân tích di truyền (GENLAB), tuổi thai tại ngày 24/6/2024 xác định là 14 tuần 06 ngày, đến ngày 28/6/2024, kết quả giám định ADN kết luận “Người có mẫu ghi tên LAI, HUNG – WEI là người bố sinh học của thai nhi có mẹ là người có mẫu ghi tên Nguyễn Thị H”. Ngày 17/12/2024, chị đã sinh bé trai tại Bệnh viện Phụ sản Tống Tuấn H1, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081, tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN.

Do chị sinh sống và làm việc tại Đài Loan từ tháng 4 năm 2023 cho đến tháng 5 năm 2024 khi chị mang thai, sau đó chị về Việt Nam giải quyết ly hôn với anh K, khi đó chị đang mang thai được hơn 02 tháng với anh L, HUNG – WEI. Hơn nữa kết luận của Viện Công nghệ A và phân tích di truyền (GENLAB) ngày 28/6/2024 xác định cháu bé trai là con của chị và anh V Công nghệ ADN và phân tích di truyền (GENLAB), anh Nguyễn Văn K cũng công nhận cháu bé chị sinh ngày 17/12/2024 không phải là con của anh K mà là con của anh L, HUNG – WEI, vì vậy chị kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận cháu bé trai chị sinh ngày 17/12/2024, tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN tại Bệnh viện P, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081 không phải là con chung của chị và anh Nguyễn Văn K trong thời kỳ hôn nhân mà là con ruột của chị (Nguyễn Thị H) và anh L, HUNG – WEI.

- Anh LAI, HUNG – WEI trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hồng Q nhau khi chị H sống và làm việc tại Đài Loan, anh chị phát sinh quan hệ tình cảm với nhau. Thời điểm đó anh được biết chị H và chồng của chị H ở Việt Nam đang trong quá trình giải quyết việc ly hôn, bởi anh và chị H yêu thương nhau nên trong thời gian chị H chờ về Việt Nam thực hiện thủ tục ly hôn, anh chị đã phát sinh quan hệ nam nữ, sau đó chị H mang thai con của anh và chị H. Đến tháng 5 năm 2024, chị H về Việt Nam giải quyết ly hôn, anh chị đã đi xét nghiệm ADN tại Viện Công nghệ A và phân tích di truyền (GENLAB), tuổi thai tại ngày 24/6/2024 xác định là 14 tuần 06 ngày, đến ngày 28/6/2024, kết quả giám định ADN kết luận “Người có mẫu ghi tên LAI, HUNG – WEI là người bố sinh học của thai nhi có mẹ là người có mẫu ghi tên Nguyễn Thị H”. Ngày 17/12/2024, chị đã sinh bé trai tại Bệnh viện Phụ sản Tống Tuấn H1, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081, tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN. Anh kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận cháu bé trai chị H1 sinh ngày 17/12/2024, tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN tại Bệnh viện P, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081 là con ruột của anh và chị Nguyễn Thị H

- Tại biên bản lấy lời khai, anh Nguyễn Văn K trình bày:

Anh xác định lời trình bày của chị Nguyễn Thị H là đúng. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận cháu bé mà chị H sinh ngày 17/12/2024 có tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN không phải là con chung của anh và chị H trong thời kỳ hôn nhân mà là con đẻ của chị H và anh L, HUNG –WEI

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ việc. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, xác định cháu bé có tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN do chị Nguyễn Thị Hồng S tại Bệnh viện P, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081 là con trai của anh L, HUNG-WEI. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu lệ phí xác định cha cho con chưa thành niên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận định:

Về tố tụng:

  1. Chị Nguyễn Thị H có địa chỉ thường trú trước khi xuất cảnh ở tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Anh L, HUNG – WEI, sinh năm 1984 có địa chỉ ở số B, ngõ B, phố T, cụm I, phường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan. Căn cứ Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
  2. Đơn yêu cầu cùng các tài liệu của chị H và anh L, HUNG – WEI gửi về Việt Nam đều được chứng thực và hợp pháp hóa lãnh sự của Văn phòng K1 tại Đ. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản chị H và anh L, HUNG – WEI nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của anh chị.
  3. Chị Nguyễn Thị H, anh L, HUNG – WEI và anh Nguyễn Văn K đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

  1. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 270/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Đến ngày 17/12/2024, chị H đã sinh một bé trai tên dự kiến là LAI, WEI-CHEN tại Bệnh viện P, theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081. Tại kết quả xét nghiệm ADN tại Viện Công nghệ A và phân tích di truyền (GENLAB), tuổi thai tại ngày 24/6/2024 xác định là 14 tuần 06 ngày, đến ngày 28/6/2024, kết quả giám định ADN kết luận “Người có mẫu ghi tên LAI, HUNG – WEI là người bố sinh học của thai nhi có mẹ là người có mẫu ghi tên Nguyễn Thị H”.
  2. Theo đó tính từ thời điểm ly hôn ngày 08/7/2024 đến thời điểm bé trai được sinh ra vào ngày 17/12/2024 là dưới 300 ngày. Theo quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam: “...con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân...”.
  3. Trong quá trình giải quyết, chị Nguyễn Thị H và anh L, HUNG – WEI cùng xác nhận tại thời điểm chị H và anh K đang trong quan hệ hôn nhân, do chị H có quan hệ tình cảm với anh L, HUNG – WEI nên mặc dù được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng con trai của chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 17/12/2024 (tên khai sinh dự kiến là LAI, WEI-CHEN) không phải là con đẻ của anh Nguyễn Văn K mà là con đẻ của anh L, HUNG – WEI. Anh K cũng xác nhận anh không phải cha ruột của cháu L, WEI-CHEN.
  4. Từ những nhận định trên cho thấy lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử nhận thấy đủ căn cứ để xác định cháu L, WEI-CHEN, ngày 17/12/2024 là con chung giữa anh L, HUNG – WEI và chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn K không phải là cha ruột của cháu L, WEI-CHEN. Do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ, phù hợp thực tế và quy định của pháp luật Việt Nam nên được chấp nhận.
  5. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu lệ phí xác định cha cho con chưa thành niên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 88, Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 10 Điều 29, khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 361; khoản 2 Điều 367; Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu "Xác định cha cho con" của chị Nguyễn Thị H.
  2. Xác định con của chị Nguyễn Thị H có tên khai sinh dự kiến là LAI, WEI-CHEN, sinh ngày 17/12/2024 theo Giấy chứng sinh vào sổ số 023455, số bệnh án: 1213081 tại Bệnh viện P là con đẻ của anh L, HUNG – WEI, sinh năm 1984; quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), địa chỉ: Số B, ngõ B, phố T, cụm I, phường N, quận N, thành phố Đ, Đài Loan.

    Anh Nguyễn Văn K không phải là cha ruột của cháu L, WEI-CHEN

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm.
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(đã ký)

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 04/2025/QÐST- VHNGĐ ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về yêu cầu xác nhận cha cho con

  • Số quyết định: 04/2025/QÐST- VHNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác nhận cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XÁC NHẬN CHA CHO CON
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger