Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Số: 03/2025/QĐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Phú Thọ, ngày 03 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Ngọc Tuấn

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Ông Hoàng Thanh Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 203/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2025/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

  1. Anh Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/9/1990; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 16/8/2021; Hộ chiếu số C9982891 do Cục Q cấp ngày 08/02/2022; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Số nhà A, đường V, tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang sống và làm việc tại: P, tòa nhà A, K, 559-29, C-ri, Madomyeon, H1-si, G-do, Hàn Quốc.
  2. Chị Đoàn Hoàng Đ, sinh ngày 05/11/1990; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 07/9/2021; địa chỉ: Số nhà A, đường V, tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Anh H ủy quyền cho chị Đ nhận thay các văn bản tố tụng; anh H và chị Đ đều đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tiếp theo, anh Nguyễn Quốc H và chị Đoàn Hoàng Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh chị đăng ký kết hôn ngày 05/3/2021 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Thời gian đầu sau kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận tại số nhà A, đường V, tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 19/12/2022, anh H đi lao động tại Hàn Quốc. Kể từ đó, giữa anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống của hai vợ chồng có nhiều khác biệt trong khi khoảng cách địa lý càng khiến hai vợ chồng thiếu sự đồng cảm và thấu hiểu lẫn nhau dẫn tới không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Dù đã được hai bên gia đình và bạn bè hết sức khuyên can, hòa giải, dù sau những lần mâu thuẫn, anh chị đã cố gắng ngồi lại với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không những không thống nhất được quan điểm mà mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng. Sau những lần như vậy tình cảm vợ chồng anh chị ngày càng xa cách, mâu thuẫn giữa anh chị kéo dài mà không thể giải quyết. Hiện nay, nhận thấy hôn nhân của mình đã rơi vào bế tắc, mâu thuẫn đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tổn thương cho hai bên. Vì vậy, anh chị thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ công nhận anh chị thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh chị chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà M, sinh ngày 15/6/2023. Ngoài ra, anh chị không có con chung nào khác. Hiện cháu M đang sống cùng với chị Đ. Anh chị thống nhất đề nghị Tòa án tuyên giao cháu Nguyễn Hà M cho chị Đoàn Hoàng Đ trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được.

- Về cấp dưỡng: Anh chị thống nhất anh Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 05 (Năm) triệu đồng/tháng để nuôi cháu M cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được. Phương thức cấp dưỡng: Định kỳ hàng năm, ngày chuyển tiền cấp dưỡng là ngày 15/10 hàng năm.

- Về tài sản chung và công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung và các nghĩa vụ khác: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí, chi phí tố tụng tại Tòa án: Anh chị thống nhất thỏa thuận để chị Đ chịu toàn bộ lệ phí, chi phí tố tụng tại Tòa án thay cho cả phần nghĩa vụ của anh H.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung việc dân sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quốc H và chị Đoàn Hoàng Đ.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà M, sinh ngày 15/6/2023 cho chị Đ trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được.

- Về cấp dưỡng: Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng 05 triệu đồng/tháng để nuôi cháu M cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được với phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng năm, ngày chuyển tiền cấp dưỡng là ngày 15/10 hàng năm.

- Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ khác: Anh H và chị Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Đ chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Quốc H và chị Đoàn Hoàng Đ thể hiện anh H đang sinh sống tại Hàn Quốc. Căn cứ Công văn số: 1292/QLXNC-Đ1 ngày 01/11/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh P, anh Nguyễn Quốc H xuất nhập cảnh nhiều lần, xuất cảnh lần gần nhất ngày 21/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh H và chị Đ đều có nơi đăng ký thường trú tại tỉnh Phú Thọ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh H, chị Đ đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và giải quyết vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và mở phiên họp vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 4 Điều 207, khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Anh Nguyễn Quốc H hiện đang sống ở nước ngoài. Do các văn bản mà anh H gửi về gồm Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung, Văn bản ủy quyền, Bản tự khai, Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và giải quyết, xét xử vắng mặt tại Tòa án đều không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định chữ ký, chữ viết của anh H trong các văn bản trên so với chữ ký, chữ viết của anh H trong Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh H và chị Đ. Tại Kết luận giám định số 26/KLGĐ-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh P xác định:

“Chữ ký dạng chữ viết “Huy” và các chữ “Nguyễn Quốc H” tại các trang và dưới mục “Chồng; Bên ủy quyền; Người làm đơn; Người khai” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4) so với chữ ký dạng chữ viết “H” và các chữ “Nguyễn Quốc H” dưới mục “Chồng” trên “Giấy chứng nhận kết hôn” mẫu so sánh (ký hiệu M) là do cùng một người ký và viết ra.”.

Như vậy, có căn cứ để xác định nội dung trong các văn bản trên thể hiện ý chí, nguyện vọng của anh Nguyễn Quốc H.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc H và chị Đoàn Hoàng Đ đăng ký kết hôn ngày 05/3/2021 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu sau kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận tại số nhà A, đường V, tổ C, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 19/12/2022, anh H đi lao động tại Hàn Quốc. Kể từ đó, giữa anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống của hai vợ chồng có nhiều khác biệt trong khi khoảng cách địa lý càng khiến hai vợ chồng thiếu sự đồng cảm và thấu hiểu lẫn nhau dẫn tới không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Hiện nay, nhận thấy hôn nhân của mình đã rơi vào bế tắc, mâu thuẫn đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, anh chị thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ công nhận anh chị thuận tình ly hôn. Việc anh H và chị Đ thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ ý chí của cả hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[2.2] Về con chung và vấn đề cấp dưỡng: Anh H và chị Đ xác nhận có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà M, sinh ngày 15/6/2023. Hiện cháu M đang sống cùng chị Đ. Sau khi ly hôn, anh chị thỏa thuận chị Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 05 (Năm) triệu đồng/tháng để nuôi cháu M cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được với phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng năm, ngày chuyển tiền cấp dưỡng là ngày 15/10 hàng năm. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận hợp pháp của đương sự nên cần công nhận.

[2.3] Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ khác: Anh H và chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[3] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh H và chị Đ thống nhất chị Đ chịu lệ phí giải quyết việc ly hôn là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự cần được chấp nhận.

[4] Xét quan điểm về việc giải quyết việc dân sự của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên họp là phù hợp cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm h khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 149; các Điều 361, 362, 365, 366, 367, 369, 370, 371 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quốc H và chị Đoàn Hoàng Đ.

[2] Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Hà M, sinh ngày 15/6/2023 cho chị Đoàn Hoàng Đ trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[3] Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 05 (Năm) triệu đồng/tháng để nuôi cháu M cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được. Phương thức cấp dưỡng: Định kỳ hàng năm, ngày chuyển tiền cấp dưỡng là ngày 15/10 hàng năm.

[4] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Đoàn Hoàng Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Xác nhận chị Đ đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000463 ngày 02/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

[5] Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND phường Thanh Miếu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: án văn, hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Đỗ Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung

  • Số quyết định: 03/2025/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc H thuận tình ly hôn Đoàn Hoàng Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger