Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ

Số: 03/2025/QÐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Phú Thọ, ngày 04 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Cao Sơn.

Thư ký phiên họp: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Lê Thuý Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ. Địa chỉ trụ sở: xã P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo pháp luật ông Trần Văn T – Chủ tịch UBND xã P. Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: ông Vàng A V – Phó Chủ tịch UBND xã P, tỉnh Phú Thọ (Theo văn bản uỷ quyền ngày 09/10/2025 của Chủ tịch UBND xã P, tỉnh Phú Thọ). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Giàng A L, sinh năm 1979. Địa chỉ: xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Bà Khà Y N (tên gọi khác là Khà Y N1), sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, đại diện người yêu trình bày: Qua kiểm tra hồ sơ tài liệu tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ theo đề nghị của công dân Giàng A L và bà Khà Y N (tức Nắng) phát hiện đã đăng ký kết hôn trái quy định của pháp luật; hai người đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình (nay là xã P, tỉnh Phú Thọ) số 13, ngày 04 tháng 12 năm 2004 với năm sinh của Giàng A L là 1980 và Khà Y N (tức N1) năm sinh là 1985. Theo tài liệu căn cước công dân thì Giàng A L sinh ngày 23/3/1979 và Khà Y N sinh ngày 01/3/1988. Tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 04/12/2004 thì Khà Y N chưa đủ 18 tuổi, mới có 16 tuổi; chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn là 18 tuổi trở lên. Khi đăng ký kết hôn bà Khà Y N đã khai khống tăng tuổi thực tế để được đăng ký kết hôn và cán bộ tư pháp không kiểm tra kỹ các loại giấy tờ khác của Khà Y mà chỉ căn cứ vào lời khai của bà K Y N để đăng ký kết hôn cho ông Giàng A L và bà Khà Y N là vi phạm Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do vậy, Ủy ban nhân dân xã P yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ xem xét huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Giàng A L và bà Khà Y N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông ông Giàng A L và bà Khà Y N: ông Giàng A L và bà Khà Y N tìm hiểu nhau và tự nguyện đi đến kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã P, tỉnh Phú Thọ). Khi đăng ký kết hôn cả hai đều không hiểu biết pháp luật, không biết về độ tuổi đăng ký kế hôn, thủ tục đăng ký kết hôn và cũng không biết bà K Y Náng bao nhiêu tuổi mà chủ động điền vào tờ khai là mình sinh năm 1985. Cả hai đều xác nhận có đăng ký kết hôn và có nhận được Giấy đăng ký kết hôn số 13 ngày 04/12/2004. Sau khi nhận Giấy đăng ký kết hôn, cả hai cũng không kiểm tra và nay mới phát hiện Giấy đăng ký kết hôn ghi sai cả năm sinh của ông Giàng A L; ông Giàng A L sinh ngày 23/3/1979. Cuộc sống chung của ông Giàng A L và bà Khà Y N thời gian gần đây không hạnh phúc nên trước yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật của UBND xã P thì ông bà đều nhất trí và cùng không đề nghị Toà án công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp từ khi ông bà đủ điều kiện kết hôn. Quá trình sống chung, Giàng A L và bà Khà Y N có 02 con chung là Giàng A G, sinh ngày 17/7/2004 và Giàng A C, sinh ngày 06/12/2007. Sau khi bị huỷ việc kết hôn trái pháp luật, do con lớn là Giàng A G đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự lao động nên ông Giàng A L và bà Khà Y N đều không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Con chung thứ hai, ông Giàng A L và bà Khà Y N thống nhất để ông Giàng A L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Giàng A C đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động. Ông Giàng A L chưa có yêu cầu bà K Y Náng đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung; ông Giàng A L và bà Khà Y N chưa yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: ông Giàng A L và bà Khà Y N đều khai là không có.

Tại phiên họp, quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp; trình tự, thủ tục phiên họp được thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ việc thấy rằng: Căn cứ vào căn cước công dân của ông Giàng A L và bà Khà Y N cùng Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thấy rằng tại thời điểm đăng ký kết hôn thì bà Khà Y N chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do đó, việc UBND xã P yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ. Việc ông Giàng A L và bà Khà Y N không yêu cầu công nhận thời gian hôn nhân hợp pháp khi đủ điều kiện kết hôn; thoả thuận về việc nuôi con chung sau khi huỷ hôn nhân trái pháp luật là tự nguyện nên đề nghị Toà án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ nhận định:

[1] Về tố tụng: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều cư trú tại xã P, tỉnh Phú Thọ; việc đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình nay thuộc xã P, tỉnh Phú Thọ nên vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử, giải quyết theo địa giới hành chính của Toà án nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về pháp luật áp dụng: Việc đăng ký kết hôn giữa ông Giàng A L và bà Khà Y N được thực hiện năm 2004 nên căn cứ xác định tính hợp pháp của việc đăng ký hôn nhân được áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật phát sinh năm 2025 nên trình tự, thủ tục giải quyết được áp dụng theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu huỷ việc kết hôn trái pháp luật: Ông Giàng A L và bà Khà Y N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình, nay là xã P, tỉnh Phú Thọ theo đăng ký kết hôn số 13, ngày 04/12/2004. Tuy nhiên, tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà khà Y (tức Nắng) mới có 16 tuổi 09 tháng 03 ngày, ông Giàng A L trên 25 tuổi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì điều kiện kết hôn về độ tuổi đối với nam là từ hai mươi tuổi trở lên (tức là từ 19 tuổi một ngày trở lên) và nữ là từ 18 tuổi trở lên (tức là từ 17 tuổi một ngày trở lên). Như vậy, việc kết hôn giữa ông Giàng A L và bà Khà Y N thì chỉ có ông Giàng A L đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi, còn bà Khà Y N chưa đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi. Vì vậy, việc Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ là cơ quan quản lý nhà nước về gia đình có yêu cầu huỷ việc đăng ký kết hôn trái pháp luật là đúng thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và có căn cứ chấp nhận.

[4] Về hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật: Do việc kết hôn giữa ông Giàng A L và bà Khà Y N đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; là kết hôn trái pháp luật. Ông Giàng A L và bà Khà Y N đều không có yêu cầu Toà án công nhận hôn nhân hợp pháp kể từ khi bà K Y Náng đủ điều kiện kết hôn về độ tuổi nên kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật, ông Giàng A L và bà Khà Y N (tức N1) phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Về con chung: ông Giàng A L và bà Khà Y N có 02 con chung là Giàng A G, sinh ngày 17/7/2004 và Giàng A C, sinh ngày 06/12/2007. Hiện nay con lớn là Giàng A G đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự lao động và ông Giàng A L và bà Khà Y N đều không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Toà án không xem xét. Con chung thứ hai là Giàng A C, sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng, ông Giàng A L và bà Khà Y N thống nhất để ông Giàng A L trực tiếp, trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Giàng A C đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động. Ông Giàng A L chưa có yêu cầu bà K Y Náng đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là thoả thuận hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Giàng A C nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Giàng A L và bà Khà Y N khai nhận là không có, không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

[4] Về lệ phí: Người yêu cầu thuộc trường hợp không phải chịu lệ phí Toà án theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; điểm b khoản 2 Điều 10; khoản 1, 3 Điều 11; Điều 12; Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ; Huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Giàng A L và bà Khà Y N (tức N1) theo đăng ký kết hôn số 13 ngày 04/12/2004 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã P, tỉnh Phú Thọ).
  2. Hậu quả pháp lý của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật:
    1. Ông Giàng A L và bà Khà Y N (tức N1) phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
    2. Về con chung: Giao con chung là Giàng A C, sinh ngày 06/12/2007 cho ông Giàng A L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Giàng A C đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động hoặc cho đến khi có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Toà án. Ông Giàng A L chưa có yêu cầu bà Khà Y N (tức N1) đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

    Bà Khà Y N (tức N1) có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật sau khi chấm dứt quan hệ như vợ chồng với ông Giàng A L.

    1. Về tài sản chung, nợ chung: Xác nhận là không có.
  3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 16 – Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - THADS khu vực 16 - Phú Thọ;
  • - UBND xã P - Phú Thọ;
  • (Nơi đăng ký hộ tịch)
  • - Lưu hồ sơ vụ việc.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP

(Đã ký)

Phạm Cao Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ về huỷ việc kết hôn trái pháp luật

  • Số quyết định: 03/2025/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ việc kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: UBND xã P yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật đối với Giàng A L và Khà Y N do vi phạm độ tuổi kết hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger