Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 03/2025/HSST-QÐLấp Vò, ngày 05 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hoằng.
  2. Ông Nguyễn Vạn Thế.

Căn cứ các điều 280 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào kết quả việc xét hỏi tại phiên tòa;

Xét thấy:

1. Tại bản kết luận điều tra số 51/KLĐT ngày 24/9/2024 và tại bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số 70/KLĐTBS ngày 13/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công án huyện L đều thể nội dung vụ án: Thời gian từ tết Nguyên đán năm 2023 đến khoảng tháng 4 năm 2023 bị cáo Nguyễn Thị Ý N biết được bà Huỳnh Thị Mỹ T cất giấu tài sản phía trên đầu tủ quần áo 08 (tám) nhẫn vàng 24k, trọng lượng mỗi nhẫn là 02 (hai) chỉ, để trong túi giấy rồi để bên trong chai Phục Cốt Thanh bằng sành, phía trên có nhiều thau đậy lại và cột bọc ny lon màu đen. Trong tủ quần áo 03 (ba) nhẫn vàng 24k, trọng lượng mỗi nhẫn 02 (hai) chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 02 (hai) chỉ 06 (sáu) phân, 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 05 (năm) phân; 01 (một) vòng đeo tay vàng 18k, trọng lượng 02 (hai) chỉ 07 (bảy) phân; 01 (một) đôi bông tai vàng 18k, trọng lượng 05 (năm) phân; 01 (một) nhẫn vàng 18k, trọng lượng 07 (bảy) phân bà T để trong túi vải màu hồng rồi để vào túi áo bà ba trong tủ quần áo.

2. Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSLVo ngày 31/12/2024 Kết luận như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2023 đến ngày 20/4/2023, lợi dụng nhà không có người nên N lén lút thực hiện trộm cắp 09 lần các tài sản gồm: 11 chiếc nhẫn, vàng 24k mỗi chiếc 02 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ 06 phân; 01 mặt dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 05 phân; 01 vòng đeo tay vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ 07 phân; 01 nhẫn đeo vàng 18k, trọng lượng 07 phân; 01 đôi bông tai vàng 18k, trọng lượng 05 phân. Tổng trị giá 158.290.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Tuy nhiên, căn cứ vào Kết luận định giá số: 40/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự Lấp Vò kết luận: 11 chiếc nhẫn, vàng 24k mỗi chiếc 02 chỉ có giá là 122.658.000 đồng. 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ 06 phân có giá là 11.018.000 đồng. 01 mặt dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 05 phân có giá là 2.119.000đ. 01 vòng đeo tay vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ 07 phân có giá là 11.442.000 đồng. 01 nhẫn đeo vàng 18k, trọng lượng 07 phân có giá là 2.996.000 đồng. 01 đôi bông tai vàng 18k, trọng lượng 05 phân trị giá là 2.119.000 đồng. Tổng cộng là 152.352.000₫ (Một trăm năm mươi hai triệu ba trăm năm mươi hai nghìn đồng). Chêch lệch so với Cáo trạng là 5.938.000đ (Năm triệu chín trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Tại Kết luận của Cáo trạng cũng nêu hành vi của bị can Nguyễn Thị Ý N đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà Huỳnh Thị Mỹ T và Lê Thị Ngọc T1.

Như vậy, Kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không có kết luận bị cáo N trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Ngọc T1 và anh Lê Tấn T2. Còn Cáo trạng số 02/CT-VKSLVo của Viện kiểm sát nhận dân huyện Lấp Vò cũng không có Kết luận bị cáo Nhi trộm cắp tài sản của anh Lê Tấn T2. Tuy nhiên, tại phần Quyết định của Cáo trạng lại đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị Mỹ T số tiền là 82.352.000 đồng và bồi thường cho bị hại Lê Tấn T2 số tiền là 5.938.000 đồng, không thể hiện bị cáo có phải bồi thường số tiền thiệt hại cho chị T1 hay không.

3. Tại phiên tòa bị cáo khai đối với sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr như sau: Trước khi về C làm giỗ mẹ khoảng 5 hay 6 ngày (ngày về Cà Mau là ngày 21/02/2023al, ngày 24/02/2023al ngày giỗ mẹ) thì vào buổi sáng bị cáo đã lén lấy trộm 01 nhẫn vàng 02 chỉ vàng 24Kr của mẹ chồng để trong túi áo bà ba, áo bà ba để trong tủ áo đến buổi chiều thì bị cáo mới nói với chồng là Lê Tấn T2 là “cho bị cáo cho mượn sợi dây chuyền mà T2 đang đeo trên cổ để bị cáo ra tiệm cầm lấy tiền để trả tiền mua hàng và sau khi bán hàng thì bị cáo sẽ mua lại cho anh T2 sợi dây chuyền lớn hơn” thì T2 đồng ý và đưa cho bị cáo. Sợi dây chuyền này là tài sản riêng của anh T2. Tuy nhiên, sau khi cầm sợi dây chuyền của anh T2 tại tiệm vàng T3 ở chợ N2 được 1.000.000 đồng (có giấy cầm vàng của tiệm vàng), cùng với việc bán 02 chỉ vàng 24Kr mà bị cáo trộm được của mẹ chồng được khoảng 8.000.000 đồng cũng không đủ để trả tiền mua hàng nên bị cáo mới quay lại tiệm V để bán luôn sợ dây chuyền của T2 vừa cầm được số tiền là 4.000.000đ. Bị cáo N khẳng định lời khai tại phiên tòa là đúng.

Còn lời khai của anh T2 trong quá trình điều tra khai: N nói với T2 “sợi dây chuyền của T2 nhỏ, đổi lại sợi dây chuyền khác, có trọng lượng nặng hơn để dành làm tài sản tích luỹ” thì T2 đồng ý. Sau đó N tự đi đổi, T2 không biết sợi dây chuyền này là vàng thật hay vàng giả, N đưa sợi dây chuyền cho T2, T2 không kiểm tra là vàng thật hay vàng giả, T2 chỉ có một sợi dây chuyền này, không có sợi dây chuyền nào khác. Tại phiên tòa anh T2 vắng mặt nên không xác minh làm rõ được.

Tại phiên tòa bị hại Huỳnh Thị Mỹ T khai, sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phần vàng 18Kr là T2 đưa tiền để bà T đi mua dùm nên là tài sản của T2 và từ khi mua thì T2 luôn đeo sợi dây chuyền này trên người. Việc T2 đưa cho bị cáo bị cáo sợi dây chuyền này như thế nào thì bà T không biết. Đối với số vàng mà con của bà T là Lê Thị Ngọc T1 gửi cho bà T thì bà T phải có trách nhiệm trả cho T1 khi T1 yêu cầu còn nếu để ra mất mát thì bà T phải có nghĩa vụ đền cho con đủ số vàng đã gửi.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSLVo ngày 31/12/2024 đã nêu: Lần thứ sáu, sau khi lấy hết vàng trên đầu tủ, N nảy sinh ý định trộm cắp vàng của bà T trong túi áo bà ba treo bên trong tủ. Vào khoảng ngày 08/3/2023 dương lịch, do cần tiền tiêu xài nên N lấy 01 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ và một sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ, 07 phân, tất cả để trong túi vải màu hồng rồi để vào trong túi áo bà ba treo trong tủ.

Đối với sợ dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 01 chỉ 07 phân, theo lời khai của N thừa nhận đã lấy trộm, rồi mang đi bán được số tiền 4.000.000đ. Theo lời khai của Lê Tấn T2 (chồng của N): N nói với T2 “sợi dây chuyền của T2 nhỏ, đổi lại sợi dây chuyền khác, có trọng lượng nặng hơn để dành làm tài sản tích luỹ” thì T2 đồng ý. Sau đó N tự đi đổi, T2 không biết sợi dây chuyền này là vàng thật hay vàng giả, N đưa sợi dây chuyền cho T2, T2 không kiểm tra là vàng thật hay vàng giả, T2 chỉ có một sợi dây chuyền này, không có sợi dây chuyền nào khác. Khi phát hiện tài sản bị mất trộm thì bà T (mẹ của T2) lấy sợi dây chuyền giao nộp.

Như vậy, theo cáo trạng thì không rõ bị cáo chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr hay 02 sợ dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr.

Từ các phân tích trên nhận thấy: Kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò chưa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra theo lời khai của bị cáo, bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ cho rằng bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm (Đối với sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr mà bị cáo khai đã chiếm đoạt của T2).

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/HSST ngày 31/12/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Thị Ý N, sinh ngày 23/4/2005, tại tỉnh Ca Mau; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tắc N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau, C ở hiện nay: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán;

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp truy tố về tội “trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để điều tra bổ sung làm rõ những nội dung sau:

  • Xác định rõ số lượng và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cụ thể là bao nhiêu ?.
  • Số vàng mà bị cáo chiếm đoạt là của bị hại Huỳnh Thị Mỹ T, của Lê Thị Ngọc T1 hay của Lê Tấn T2. Trường hợp bị cáo chiếm đoạt của 03 bị hại thì bị cáo chiếm đoạt của bị hại T là bao nhiêu, bị hại T1 là bao nhiêu và bị hại T2 là bao nhiêu ?. Và hành vi chiếm đoạt như thế nào để xác định đúng ai là người bị hại.
  • Xác định bị cáo chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr hay 02 sợi dây chuyền 01 chỉ 07 phân vàng 18Kr (một sợi của bà T và một sợi của anh T2).
  • Xác định rõ lý do Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Tấn T2 số tiền là 5.938.000 đồng.
  • Tại phần nội dung vụ án của bản cáo trạng thể hiện: Hiện bị hại Lê Thị Ngọc T1 uỷ quyền cho bà Huỳnh Thị Mỹ T, cùng yêu cầu N phải bồi thường số tiền 152.352.000 đồng. Bà T đã nhận lại số tiền 70.000.000 đồng và tiếp tục yêu cầu bồi thường số tiền còn lại. Tuy nhiên, tại phần quyết định của Cáo trạng lại đề nghị, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền là 82.352.000 đồng cho bị hại Huỳnh Thị Mỹ T. Như vậy, bị hại Lê Thị Ngọc T1 có còn yêu cầu bị hại bồi thường hay không. Do đó, cần làm rõ bị hại T1 có yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp hay không ? Nếu có yêu cầu thì số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho bị hại T1 số tiền cụ thể là bao nhiêu. Còn nếu không yêu cầu bồi thường tiếp thì phải thể hiện lý do tại sao không yêu cầu bồi thường tiếp.
  • Điều tra, xác minh, làm rõ hành vi bị cáo N chiếm đoạt sợi dây chuyền vàng 18Kr có trọng lượng 01 chỉ 07 phân của Lê Tấn T2. Để xác định bị cáo có phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội khác mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định là tội phạm hay không.
  • Xác định rõ cha của bị cáo sinh năm 1955 hay sinh năm 1957 (Cáo trạng ghi năm 1955, Kết luận điều tra ghi năm 1957 và lưu ý giới tính của bị cáo trong cáo trạng ghi là N1).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lấp Vò
  • (kèm hồ sơ vụ án);
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Nội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 03/2025/HSST-QÐ ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số quyết định: 03/2025/HSST-QÐ
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẢ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger