Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QÐST-HNGĐ

Lai Châu, ngày 04 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Quàng Thị Phương.

Thư ký phiên họp: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên họp: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về yêu cầu “Huỷ kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 02/QÐST - HNGĐ ngày 21/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trương Văn T, sinh năm 1968.
  • Địa chỉ: Bản M, xã M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Lường Thị H, sinh năm 1999;
    2. Anh Trương Văn P, sinh năm 1997.
  • Cùng địa chỉ: Bản M, xã M, tỉnh Lai Châu.
  • 3. Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo pháp luật ông: Vũ Văn N - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu. (Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Trương Văn T trình bày:

Ông Trương Văn T có con trai là Trương Văn P, sinh năm 1997, con dâu là Lường Thị H, sinh năm 1999, cùng cư trú tại bản M, xã M, tỉnh Lai Châu. Anh P, chị H sống chung như vợ chồng từ năm 2015, hai bên gia đình có biết nhưng không ngăn cản và chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Chị Lường Thị H vẫn sống cùng bố mẹ đẻ tại bản Mường 2, xã M thỉnh thoảng qua lại nhà anh Trương Văn P và có 01 người con chung với anh Trương Văn P. Năm 2022, chị Lường Thị H, anh Trương Văn P xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, hai bên gia đình động viên, hoà giải thì anh Trương Văn P cho biết giữa anh và chị H có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 15/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu. Qua xem xét Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện chị Lường Thị H, sinh ngày 26/01/1999, anh Trương Văn P sinh năm 1997. Thực tế giấy khai sinh, các giấy tờ tuỳ thân chị Lường Thị H sinh ngày 26/11/1999, anh Trương Văn P sinh ngày 15/4/1997. Việc anh Trương Văn P kê khai đăng ký kết hôn gia đình không ai biết. Tại thời điểm đăng ký kết hôn là năm 2017 chị Lường Thị H mới 17 tuổi 02 tháng 20 ngày; anh Trương Văn P mới 19 tuổi 10 tháng, cả hai chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Đến nay anh chị đã sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên ông Trương Văn T có đơn yêu cầu Toà án giải quyết huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 15/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lường Thị H tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết việc dân sự, đơn xin vắng mặt trình bày: Chị Lường Thị H thừa nhận tự nguyện sống chung với anh Trương Văn P từ năm 2015, đến năm 2017 anh Trương Văn P nói với chị H đi đăng ký kết hôn nhưng do đang nuôi con nhỏ nên chị H không trực tiếp cùng anh P đến U, cung cấp thông tin để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Chị H thừa nhận được ký vào Giấy chứng nhận kết hôn do anh P mang về nhưng không để ý thông tin cá nhân ghi trong đăng ký. Đến năm 2022 khi anh chị phát sinh mâu thuẫn, sau khi xem Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 15/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu cấp. Trong Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện chị Lường Thị H sinh ngày 26/01/1999 là không đúng, thực tế giấy khai sinh, các giấy tờ tuỳ thân chị Lường Thị H sinh ngày 26/11/1999 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn chị chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Thời điểm hiện tại chị Lường Thị H đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên, thực tế anh chị phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 và đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lường Thị H nhất trí với yêu cầu của ông Trương Văn T, yêu cầu Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn P tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết việc dân sự, đơn xin vắng mặt trình bày: Anh Trương Văn P thừa nhận tự nguyện tìm hiểu, sống chung với chị Lường Thị H từ năm 2015. Do không hiểu biết pháp luật nên dù biết chị Lường Thị H chưa đủ tuổi kết hôn anh vẫn tiếp tục sống chung nhưng chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Đến năm 2017, mặc dù biết chị H và bản thân chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng do cần làm giấy khai sinh cho con nên anh Trương Văn P đã tự mình lên UBND xã M, tỉnh Lai Châu kê khai thông tin năm sinh chị Lường Thị H từ ngày 26/11/1999 thành 26/01/1999, còn bản thân anh P chỉ kê khai năm sinh là 1997 để đủ tuổi kết hôn và được UBND xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 15/02/2017. Sau khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn anh P đem về cho chị H ký tên và cất giữ không nói với ai. Đến năm 2022 khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh mới thông báo cho gia đình biết việc anh chị có đăng ký kết hôn. Thời điểm hiện tại chị H, anh P đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên thực tế anh chị không còn sống chung, tình cảm vợ chồng không còn và không muốn duy trì hôn nhân. Vì vậy anh Trương Văn P nhất trí với yêu cầu của ông Trương Văn T đề nghị Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị Lường Thị H.

Về con chung, quá trình giải quyết anh Trương Văn P và chị Lường Thị H thừa nhận có 01 con chung chưa thành niên cháu Trương Khánh D, sinh ngày 03/6/2016. Khi huỷ kết hôn trái pháp luật anh chị đã thoả thuận anh Trương Văn P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Khánh D. Anh P không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung chị H, anh P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã M, tỉnh Lai Châu: Qua rà soát sổ đăng ký kết hôn số 07/2017 của UBND xã M, trang số 07 thể hiện trường hợp chị Lường Thị H, anh Trương Văn P kê khai đăng ký hết hôn. Trong đó chị Lường Thị H kê khai sinh ngày 26/01/1999, anh P khai sinh năm 1997. Trong hồ sơ, thủ tục không lưu giữ các bản khai, các giấy tờ về thông tin cá nhân của chị H, anh P. Ông Trương Văn T có yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 15/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu. Lý do: Tại thời điểm đăng ký kết hôn (năm 2017) chị Lường Thị H hơn 17 tuổi, anh Trương Văn P hơn 19 tuổi, cả hai chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và có cung cấp giấy khai sinh, căn cước công dân xác định chị Lường Thị H sinh ngày 26/11/1999 và anh Trương Văn P sinh ngày 15/4/1997 là có căn cứ. Do đó, UBND xã M, tỉnh Lai Châu đề nghị Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn T, xem xét huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P.

Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu thụ lý việc dân sự, tiến hành lấy lời khai đương sự, hỏi ý kiến con chung chưa thành niên, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã M, tỉnh Lai Châu xác định: Trong giấy chứng nhận kết hôn thể hiện chị Lường Thị H sinh ngày 26/01/1999, anh Trương Văn P sinh năm 1997. Trong Căn cước công dân, giấy khai sinh, giấy xác nhận thông tin cư trú thể hiện chị Lường Thị H, sinh ngày 26/11/1999, anh Trương Văn P sinh ngày 15/4/1997. Tại biên bản lấy lời khai của con chung chưa thành niên thể hiện: Cháu Trương Khánh D có nguyện vọng sống cùng bố là Trương Văn P. Sau khi xem xét các ý kiến và tài liệu chứng cứ thu thập được, Toà án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Tại phiên họp, các đương sự vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt, giữ nguyên nội dung yêu cầu và các ý kiến trong quá trình giải quyết việc dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến khi mở phiên họp đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ việc đề nghị áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật tư pháp người chưa thành niên; Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; Khoản 1 Điều 8, các Điều 10, 11, 12, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01 ngày 06/01/2016; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trương Văn T. Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P.

Về hậu quả của việc huỷ kết hôn trái pháp luật:

  • - Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về nuôi con sau khi ly hôn: Giao cho anh Trương Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Trương Khánh D, sinh ngày 03/6/2016 cho đến khi cháu Duy thành N1 (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trương Văn P không yêu cầu chị Lường Thị H cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do chị Lường Thị H, anh Trương Văn P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • - Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Trương Văn T không phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu nhận định:

[1] Về quyền yêu cầu, quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Trương Văn T có đơn yêu cầu Toà án giải quyết huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H, anh Trương Văn P. Ông Trương Văn T là bố đẻ anh Trương Văn P, bố chồng chị Lường Thị H – người kết hôn trái pháp luật, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình ông Trương Văn T là người có quyền yêu cầu. Chị Lường Thị H, anh Trương Văn P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu, căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ngày 04/12/2025 Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

[3] Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, Toà án nhận định: Tại Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 15/02/2017 thể hiện anh Trương Văn P và chị Lường Thị H đăng ký kết hôn tại UBND xã M, tỉnh Lai Châu. Anh Trương Văn P thừa nhận tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Lường Thị H và anh Trương Văn P chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng do muốn đăng ký khai sinh cho con nên anh đã tự mình lên Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu kê khai ngày tháng năm sinh của chị Lường Thị H là ngày 26/01/1999 (Thực tế theo Giấy khai sinh số 86 ngày 26/01/2022 thể hiện chị Lường Thị H sinh ngày 26/11/1999); kê khai năm sinh của mình là 1997 (thực tế sinh ngày 15/4/1997). Tính đến thời điểm đăng ký kết hôn là ngày 15/02/2017 chị Lường Thị H mới 17 tuổi 02 tháng 20 ngày; anh Trương Văn P mới 19 tuổi 10 tháng, cả hai chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Ngoài ra chị H, anh P không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác.

Tại thời điểm Toà án thụ lý, giải quyết vụ việc, chị Lường Thị H, anh Trương Văn P đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống chị H, anh P phát sinh mâu thuẫn vợ chồng từ năm 2022, hai bên không còn tình cảm, đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không ai quan tâm đến ai. Hiện tại, anh chị không muốn tiếp tục duy trì hôn nhân và nhất trí với yêu cầu của ông Trương Văn T đề nghị Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P. Căn cứ khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 10, 11, 12, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn T, huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 15/02/2017 của UBND xã M, tỉnh Lai Châu.

[4] Về hậu quả của việc huỷ kết hôn trái pháp luật.

Trong thời gian chung sống chị Lường Thị H và anh Trương Văn P có 01 con chung chưa thành niên cháu Trương Khánh D, sinh ngày 03/6/2016, cháu khoẻ mạnh bình thường và hiện đang sống cùng anh Trương Văn P. Qua tham khảo ý kiến của con chung chưa thành niên, kết quả: Cháu Trương Khánh D có nguyện vọng sống cùng bố. Quá trình giải quyết vụ việc, chị H và anh P đã thống nhất được về việc nuôi con khi huỷ kết hôn trái pháp luật đề nghị Toà án ghi nhận: Anh Trương Văn P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Khánh D. Anh P không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết. Xét thấy thoả thuận của chị H, anh P là tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung chưa thành niên nên cần căn cứ các Điều 12, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận sự thoả thuận của chị Lường Thị H, anh Trương Văn P.

Về tài sản chung, nợ chung chị H, anh P không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về lệ phí Toà án: Căn cứ Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, ông Trương Văn T không phải chịu lệ phí Toà án.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Kiến nghị: Kiến nghị UBND xã M, tỉnh Lai Châu nói riêng và cấp có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký kết hôn nói chung cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý, thực hiện việc đăng ký kết hôn thuộc thẩm quyền, cần rà soát kỹ các trường hợp đăng ký kết hôn đảm bảo đầy đủ các điều kiện kết hôn, tiến hành đúng trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Đồng thời, thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu về giải quyết nội dung vụ việc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật tư pháp người chưa thành niên; Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án;

Căn cứ khoản 1 Điều 8, các Điều 10, 11, 12, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trương Văn T.
  2. Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lường Thị H và anh Trương Văn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 05/02/2017 của UBND xã M, tỉnh Lai Châu.

  3. Về hậu quả của việc huỷ kết hôn trái pháp luật:
  4. Chị Lường Thị H, anh Trương Văn P phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

    Ghi nhận sự thoả thuận của chị Lường Thị H, anh Trương Văn P về nuôi con khi huỷ kết hôn trái pháp luật:

    Giao cho anh Trương Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Trương Khánh D, sinh ngày 03/6/2016 cho đến khi cháu Duy thành N1 (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.

    Chị Lường Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của người trực tiếp nuôi con.

  5. Về lệ phí Toà án: Ông Trương Văn T không phải chịu lệ phí Toà án.
  6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết.
  7. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND khu vực 2 - Lai Châu;
  • - THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Mường Kim, tỉnh Lai Châu;
  • - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.
  • - Lưu Hồ sơ việc dân sự.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

đã ký

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 02/QÐST-HNGĐ ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật

  • Số quyết định: 02/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Trương Văn P - Lường Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger