|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số:02/2024/QÐST-HNGĐ |
Đoan Hùng, ngày 31 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Duyên
Thư ký phiên họp: Ông Trần Minh Thắng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên họp: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, về việc: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên họp số 02/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 15/7/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
-
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị L, sinh năm 1958
Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Bùi Đức L1, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
-
Ông Bùi Văn M, sinh năm 1956
Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt)
-
Anh Bùi Đức L1, sinh năm 2001;
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Trương Thị L yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Bùi Đức L1.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và trong quá trình giải quyết bà Trương Thị L trình bày:
Bà và ông Bùi Văn M, sinh năm 1956 kết hôn với nhau vào năm 1992, sau nhiều năm chung sống, vợ chồng bà không có con chung, con riêng. Đến năm 2002, khi biết cháu Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/6/2001 là con đẻ của chị H ở xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ có hoàn cảnh cần được nuôi dưỡng nên vợ chồng bà đã xin nhận cháu T làm con nuôi. Thời điểm đó, cháu T ở với ông bà ngoại vì chị H bị bệnh đã bỏ nhà đi, bố đẻ của cháu không xác định được và ông bà ngoại không có điều kiện để nuôi cháu. Vợ chồng bà và bà ngoại cháu T đã được UBND xã T xác nhận và thực hiện thủ tục giao nhận con nuôi theo quy định pháp luật. Sau khi nhận nuôi cháu T vợ chồng bà đã đăng ký khai sinh theo họ của ông Bùi Văn M và đổi họ tên cháu là Bùi Đức L1, sinh ngày 27/6/2001, cháu L1 được vợ chồng tôi chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Nay cháu Bùi Đức L1 đã đến tuổi trưởng thành, lao động tự túc được, vợ chồng bà tuổi đã cao, sức yếu và không có nhu cầu nuôi con nuôi nữa nên bà tự nguyện đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà với cháu Bùi Đức L1. Bà không yêu cầu anh L1 phải có nghĩa vụ gì đối với vợ chồng bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn M (Chồng bà L) nhất trí với quan điểm của bà Trương Thị L về việc tự nguyện đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông bà với anh Bùi Đức L1, ông không yêu cầu anh L1 phải có nghĩa vụ gì đối với vợ chồng ông. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Bùi Đức L1 nhưng hiện tại anh L1 đi làm xa không có quan điểm trình bày tại Tòa án. Ông bà cũng đã liên lạc và trao đổi với anh L1 về việc chấm dứt nuôi con nuôi và anh L1 cũng đồng ý, nhưng không về Tòa án làm việc.
Kết quả xác minh tại UBND xã V và UBND xã T, huyện Đ phù hợp với lời khai của bà Trương Thị L và ông Bùi Văn M về hoàn cảnh, thời gian, thủ tục nhận nuôi dưỡng anh Nguyễn Mạnh T. Anh Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 26/7/2001 là con đẻ của chị H, bố không xác định được. Từ khi sinh ra anh T ( L1) được ông bà ngoại nuôi dưỡng vì mẹ cháu bị bệnh đã bỏ đi đến năm 2002 do hoàn cảnh nên ông ngoại không tiếp tục nuôi dưỡng và đồng ý để cháu làm con nuôi của vợ chồng bà L ở xã V, huyện Đ. Việc nhận nuôi con nuôi giữa hai bên là tự nguyện và được UBND xã T làm thủ tục giao nhận theo đúng quy định pháp luật được thể hiện tại biên bản “giao nhận việc nuôi nuôi” ngày 11/11/2002. Sau khi nhận nuôi anh T, vợ chồng bà L đã làm thủ tục khai sinh tại UBND xã V thay đổi họ và tên là Bùi Đức L1, sinh ngày 26/7/2001 do sơ suất nên trong giấy khai sinh phần ghi người đi khai sinh ghi “ Bùi Văn M là cha đẻ” nhưng thực tế ông Bùi Văn M là cha nuôi. Việc nhận con nuôi giữa vợ chồng bà L ông M đối với anh L1 là hợp pháp. Nay anh Bùi Đức L1 đã trưởng thành và đang đi làm thi thoảng mới về địa phương.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39, Điều 367,369, 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 của Luật nuôi con nuôi năm 2010;khoản 1 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 4, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị L về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà Trương Thị L và ông Bùi Văn M đối với anh Bùi Đức L1.
Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Về lệ phí việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm cho bà L vì là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu là bà Trương Thị L có đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với anh Bùi Đức L1, trú tại khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định việc dân sự “ yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Trương Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn M vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Đức L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do vậy, Toà án đã Quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự là hoàn toàn phù hợp quy định tại Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Năm 2002, vợ chồng bà Trương Thị L và ông Bùi Văn M đã nhận anh Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 26/7/2001 làm con nuôi, được sự đồng ý của bà Nguyễn Thị L2 là bà ngoại của anh T (mẹ đẻ của anh bị bệnh đã bỏ đi, bố đẻ không xác định) và được UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ lập biên bản “giao nhận nuôi con nuôi” vào ngày 11/11/2002, anh Nguyễn Mạnh T được đăng ký khai sinh theo họ của bố nuôi và họ tên khai sinh là Bùi Đức L1. UBND xã V xác nhận do sơ suất nên khi đăng ký khai sinh cho anh L1 có ghi tên Bùi Văn M là “cha đẻ” tại mục người đi khai sinh nhưng thực tế ông Bùi Văn M là cha nuôi của anh L1. Lời khai của các đương sự phù hợp với kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nên có đủ căn cứ xác định việc nhận nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà Trương Thị L và ông Bùi Văn M đối với anh Bùi Đức L1 là hợp pháp. Sau khi nhận nuôi con nuôi, anh L1 được vợ chồng bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi đối với con nuôi và giữa con nuôi với cha mẹ nuôi như cha mẹ đẻ, con đẻ. Nay con nuôi là anh Bùi Đức L1 đã thành niên và cha mẹ nuôi là vợ chồng bà Trương Thị L tự nguyện được chấm dứt việc nuôi con nuôi với anh L3 có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi.
[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị L phải nộp theo quy định. Tuy nhiên, do bà L là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí, nên miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm cho bà L.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 369, Điều 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 của Luật nuôi con nuôi năm 2010; khoản 1 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị L về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Bùi Văn M, sinh năm 1956 và bà Trương Thị L, sinh năm 1958; Đều có nơi cư trú: khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đối với con nuôi là anh Bùi Đức L1, sinh năm 2001, nơi cư trú: khu B, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về lệ phí sơ thẩm: Miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm cho bà Trương Thị L vì là người cao tuổi.
- Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Bùi Thị Duyên |
Quyết định số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Số quyết định: 02/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
