|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 02/2024/QÐST-VHNGĐ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ba Đồn, ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v Huỷ kết hôn trái pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Hữu Tình
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Giang - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2024/TLST-VHNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình số: 02/2024/QÐST - VHNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- - Người yêu cầu: Anh Đinh Thế D, sinh năm 1982
- Nơi cư trú: Thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1996
- Nơi cư trú: Thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình
- Người đại diện: Ông Nguyễn Trường C - Phó Chủ tịch. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo nội dung của Đơn yêu cầu đề ngày 24/6/2024, Bản tự khai, quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp, người yêu cầu - anh Đinh Thế D trình bày:
Anh và chị Lê Thị Diệp H (Là vợ cũ của anh D) đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 58/2023/QÐST-HNGĐ ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Đồng thời, cũng cùng ngày 20/12/2023, Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã ra Quyết định số 3334/QĐ - UBND ngày 20/12/2023 về việc thu hồi và huỷ bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 20, quyển số 01/2023 do Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 15/3/2023 cho anh Đinh Thế D, sinh ngày 03/12/1982 với lý do việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã Q không đúng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Luật Hộ tịch năm 2014 và khoản 1, khoản 3 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ - CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.
Do không hiểu biết về pháp luật nên trong quá trình làm thủ tục ly hôn với chị H, vào ngày 17/3/2023, anh đã cùng với chị Nguyễn Thị X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/3/2023.
Nhận thấy vì sự thiếu hiểu biết của mình đã dẫn đến việc đăng ký kết hôn của anh là sai quy định pháp luật nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị Nguyễn Thị X.
Tại Bản tự khai ngày 19/7/2024, chị Nguyễn Thị X trình bày: Việc anh D ly hôn với chị Lê Thị Diệp H thì chị không rõ. Nhưng việc chị và anh D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 17/3/2023 là hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các bên. Chị và anh D được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 17/3/2023. Nhưng đến ngày 20/12/2023 thì Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình ra Quyết định thu hồi và huỷ bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của anh D. Đây là một trong những cơ sở để chị và anh D có đủ căn cứ để làm thủ tục kết hôn. Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình đã thu hồi Giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 17/3/2023 của anh, chị. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị, chị đồng ý với yêu cầu của anh D. Yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Đinh Thế D.
Tại Công văn số 58/CV - UBND ngày 28/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình về việc phúc đáp, xác minh thông tin, Uỷ ban xã xác nhận: Ngày 17/3/2023, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình có đăng ký kết hôn cho chị Nguyễn Thị X, sinh ngày 12/8/1996, có căn cước công dân số [...] và anh Đinh Thế D, sinh ngày 03/12/1982, có căn cước công dân số [...].
Tại phiên họp, anh Đinh Thế D vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị Nguyễn Thị X theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về mặt tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về mặt nội dung: Thấy rằng yêu cầu của người yêu cầu là có cơ sở nên đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình áp dụng điểm c khoản 2 Điều 5; điểm d khoản 1 Điều 8; Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 40, khoản 4 Điều 143, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình: Mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Về yêu cầu của người yêu cầu, chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đinh Thế D, tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X. Về lệ phí, anh Đinh Thế D phải chịu tiền lệ phí theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Anh Đinh Thế D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình yêu cầu tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X. Mặt khác, chị Nguyễn Thị X có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nên việc Hôn nhân và gia đình này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thủ tục mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng để người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên họp. Tuy nhiên, tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
[2] Về quan điểm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình:
Anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X đều thừa nhận: Hai người tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/3/2023. Thời điểm này trước với thời điểm ngày 20/12/2023, là ngày mà anh Đinh Thế D và chị Lê Thị Diệp H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 58/2023/QÐST-HNGĐ ngày 20/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Quá trình giải quyết vụ việc, Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tiến hành yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình xác nhận lại thông tin về việc kết hôn giữa anh D và chị X và Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình đã xác nhận là có sự việc kết hôn này.
Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ việc, xét thấy, việc anh D và chị X đăng ký kết hôn trước thời điểm anh D ly hôn với chị H là trái với quy định pháp luật quy định điểm c khoản 2 Điều 5 và điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, việc anh D yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị X là hoàn toàn có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Tại phiên họp, anh Đinh Thế D trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X.
[3] Về ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Người yêu cầu anh Đinh Thế D phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 5; điểm d khoản 1 Điều 8; Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 40, khoản 4 Điều 143, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Mở phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
- Chấp nhận yêu cầu về việc hủy kết hôn trái pháp luật của anh Đinh Thế D.
Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X, theo giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 17/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: Anh Đinh Thế D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình để sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào khoản tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003374 ngày 02 tháng 7 năm 2024. Anh D đã nộp đủ tiền lệ phí theo quy định.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Phiên họp giải quyết việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình được quyền kháng nghị, anh Đinh Thế D và chị Nguyễn Thị X có mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày; Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 24/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Hữu Tình |
Quyết định số 02/2024/QÐST-VHNGĐ ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình v/v huỷ kết hôn trái pháp luật
- Số quyết định: 02/2024/QÐST-VHNGĐ
- Quan hệ pháp luật: SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH V/v Huỷ kết hôn trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Thế Duyến - Nguyễn Thị Xanh: Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật
