Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NINH HÒA

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 02/2024/QÐST-HNGĐ

Ninh Hòa, ngày 19 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ

GIA ĐÌNH

V/v Yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Viết Trung

Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 02/2024/QÐST- HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Bà Phan Thị Thanh N, sinh năm 1991

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, thị xã N; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn N1, sinh năm 1991
  2. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, thị xã N; Có mặt.

  3. Ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1977
  4. Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu, bản tự khai, quá trình giải quyết việc và tại phiên họp

người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình bà Phan Thị Thanh N trình bày: Bà và ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 55, quyển số 01, ngày 28/7/2009 tại xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình trầm trọng nên bà và ông H sống ly thân với nhau. Đến năm 2020, bà quen biết và sống chung như vợ chồng với ông Lê Văn N1, sinh năm 1991, trú tại: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa và bà đã sinh được một cháu trai vào ngày 24/02/2022 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K, dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V. Sau đó, bà trở về huyện E, tỉnh Đắk Lắk yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Bá H. Ngày 16/9/2022, Toà án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử và ra Bản án số 76/2022/HNGĐ-ST, theo đó bà được ly hôn với ông Nguyễn Bá H và xác định trong thời kỳ hôn nhân bà với ông H có 03 người con chung tên Nguyễn Bá L, sinh ngày 14/10/2011; Nguyễn Bá B, sinh ngày 08/3/2016 và Nguyễn Tú U, sinh ngày 12/7/2018. Toà án huyện Ea H'leo quyết định giao cháu B cho bà nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao cháu L và cháu U cho ông H1 nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ly hôn xong, bà và ông Lê Văn N1 đăng ký kết hôn và UBND phường N, thị xã N được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73/2023, đăng ký ngày 13/6/2023. Nay con chung của bà và ông N1 đã đến tuổi nhập học nhưng không làm được giấy khai sinh để nhập học. Bà và ông N1 đã yêu cầu xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH MTV T, địa chỉ A V, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: ông Lê Văn N1 và con (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) có cùng huyết thống C – Con với độ tin cậy >99,9999%. Vì vậy, bà yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991 là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V).

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết việc và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N1 trình bày: Vào năm 2020, ông có quen và sống chung như vợ chồng với bà Phan Thị Thanh N, sinh năm 1991, nơi thường trú: Tổ dân phố D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Từ đó đến nay, ông và bà N sinh sống tại nhà ông ở tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do bà N chưa làm thủ tục ly hôn với chồng trước nên ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, ông và bà N có 01 con chung dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022. Sau đó, bà N làm thủ tục ly hôn với chồng trước. Ngày 16/9/2022, Toà án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử và ra Bản án số 76/2022/HNGĐ-ST cho bà N ly hôn với ông Nguyễn Bá H. Ngày 13/6/2023, ông và bà N đăng ký kết hôn và được UBND phường N, thị xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73/2023, đăng ký ngày 13/6/2023. Nay con chung của tôi và bà N (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) đến tuổi nhập học thì không đăng ký khai sinh được. Ông và bà N có yêu cầu xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH MTV T, địa chỉ A V, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: ông và con (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) có cùng huyết thống C – Con với độ tin cậy >99,9999%. Vì vậy, ông đồng ý với yêu cầu của bà N, yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà xác định ông là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V)

* Tại biên bản làm việc ngày 29 tháng 02 năm 2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá H trình bày: Ông không liên quan gì đến yêu cầu của bà N nên không trình bày bản tự khai hay không đồng ý lấy lời khai. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên họp, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng giải quyết việc hôn nhân và gia đình, Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về Thủ tục giải quyết việc hôn nhân và gia đình; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 68, 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự; Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phan Thị Thanh N, xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991 là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị Thanh N là mẹ ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) có đơn yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V). Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Ông Nguyễn Bá H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu của bà Phan Thị Thanh N là mẹ ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) có đơn yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V), nhận thấy:

Căn cứ vào phiếu kết quả phân tích ADN số: VF129-23.M1.D, VF114-23.M5.C ngày 09 tháng 9 năm 2023 của Công ty TNHH MTV T1 kết luận: Lê Văn N1, ngày sinh: 08/09/1991 và Lê Phan Uy V, ngày sinh: 24/02/2022 có cùng huyết thống C – Con với độ tin cậy >99,9999%. Tòa án có đủ cơ sở xác định: Ông Lê Văn N1, ngày sinh: 08/09/1991 là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, ngày sinh: 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V). Vì vậy, yêu cầu của bà Phan Thị Thanh N là mẹ ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V) là có cơ sở theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 30, Điều 39 Bộ luật dân sự và Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[3] Về lệ phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Phan Thị Thanh N yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 30, Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 88, Điều 101 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xác định ông Lê Văn N1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa là cha ruột của cháu Lê Phan Uy V, sinh ngày 24/02/2022 (dự định đặt tên con là Lê Phan Uy V).
  2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Thanh N yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định (19/4/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình hoặc từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định (19/4/2024).

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Ninh Hòa;
  • - THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - UBND phường Ninh Hiệp;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Viết Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình (yêu cầu xác định cha cho con)

  • Số quyết định: 02/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình (Yêu cầu xác định cha cho con)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhàng - Như - Yêu cầu xác định cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger