|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH QUẢNG TRỊ Số: 02/2025/QÐST - HNGĐ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Quảng Trị, ngày 25 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ
***
Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Dương Thị Kim Dung
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên họp: Ông Phạm Quang Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-VHNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2025/QÐST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn T, phường B, tỉnh Quảng Trị.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quý D, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị.
Tại phiên họp có mặt chị H, anh D.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị H trình bày:
Vào năm 2007 chị Nguyễn Thị H có kết hôn với anh Mai Xuân T. Sau khi kết hôn vợ chồng sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nên đã ly thân với nhau từ cuối năm 2018. Trong quá trình chung sống cho đến khi chính thức ly hôn, giữa chị H và anh T có 02 con chung là Mai Nguyễn Hà P và Mai An N. Chị Nguyễn Thị H đã ly hôn với anh Mai Xuân T theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải đối thoại tại Tòa án số 15/2025/QÐST - HNGĐ ngày 06/6/2025 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị) và hai bên cũng đã thừa nhận tại quyết định vợ chồng chỉ có 02 con chung. Tuy nhiên trong thời gian chị H và anh T ly thân, vào khoảng năm 2020 chị Nguyễn Thị H và anh Trần Quý D quen biết nhau, sau đó đã phát sinh quan hệ tình cảm và có với nhau một người con chung sinh ngày 28/4/2021 tại Bệnh viện Đ, giới tính: Nam, có tên dự kiến là Trần Anh T1. Ngày 11/6/2025 chị Nguyễn Thị H và anh Trần Quý D cũng đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thị xã B tỉnh Quảng Bình (nay là xã N, tỉnh Quảng Trị).
Nay chị Nguyễn Thị H yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị xác định anh Trần Quý D là bố ruột của cháu trai sinh ngày 28/4/2021 có tên dự kiến là Trần Anh T1 theo theo giấy chứng sinh số 937, quyển số 00 do Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Q cấp ngày 12/07/2024 và kết quả phân tích ADN số 25503CG/DNA ngày 18/6/2025 của Công ty Cổ phần T3 để làm thủ tục khai sinh cho cháu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quý D trình bày:
Khoảng đầu năm 2020 anh và chị H quen biết nhau, quá trình tìm hiểu có phát sinh quan hệ tình cảm với nhau và đến ngày 28/4/2021 chị H và anh có với nhau một người con chung được sinh ra tại Bệnh viện Đ, giới tính: Nam, có tên dự kiến là Trần Anh T1. Ngày 11/6/2025 chị Nguyễn Thị H và anh Trần Quý D cũng đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thị xã B tỉnh Quảng Bình (nay là xã N, tỉnh Quảng Trị).
Tuy nhiên do tại thời điểm anh và chị H đến với nhau thì chị H vẫn chưa chấm dứt hôn nhân với chồng trước nên không thể khai sinh cho con. Anh D cũng đã làm xét nghiệm ADN và kết quả anh D và cháu trai có tên dự kiến Trần Anh T1 có quan hệ huyết thống bố - con, độ tin cậy 99,9999%. Nay anh D nhất trí với yêu cầu của chị H và yêu cầu xác định anh D là cha của cháu trai có tên dự kiến Trần Anh T1, sinh ngày 28/4/2021 theo giấy chứng sinh số 937, quyển số 00 do Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Q cấp ngày 12/07/2024.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký phiên họp: Thẩm phán và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp hành đúng quy định về việc mở phiên họp.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng giải quyết việc dân sự, thư ký tại phiên họp đã tuân theo đúng các quy định của chương XXIII Bộ luật tố tụng dân sự về Thủ tục giải quyết việc dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 68, 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về phần nội dung:
căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; khoản 2, 3 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 11 nghị quyết 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ vào Phiếu kết quả phân tích ADN số 25503CG/DNA ngày 18/6/2025 của Công ty Cổ phần T3, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc xác định anh Trần Quý D là cha ruột của bé dự kiến đặt tên Trần Anh T1 sinh ngày 28/4/2021.
Lệ phí giải quyết việc dân sự:
Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho chị Nguyễn Thị H. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0001408 ngày 28/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại thôn T, phường B, tỉnh Quảng Trị; chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh Trần Quý D là cha đẻ của cháu có tên dự kiến Trần Anh T1 nên đây là yêu cầu xác định cha cho con thuộc yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc chị H yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị.
[2] Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị H:
Vào năm 2020, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Quý D quen biết và quan hệ tình cảm với nhau, sau đó chị Nguyễn Thị H đã mang thai và có con chung là 01 bé trai sinh vào ngày 28/4/2021 tại bệnh viện Đ theo giấy chứng sinh số 937, quyển số 00 do Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Q cấp ngày 12/07/2024, bé dự kiến được đặt tên là Trần Anh T1. Tại thời điểm sinh cháu Trần Anh T1, chị H vẫn đang là vợ hợp pháp của anh Mai Xuân T. Vì vậy, các bên chưa thể làm thủ tục khai sinh cho cháu Trần Anh T1. Tuy nhiên tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải đối thoại tại Tòa án số 15/2025/QÐST - HNGĐ ngày 06/6/2025 của Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị), chị Nguyễn Thị H và anh Mai Xuân T cũng đã thừa nhận và được ghi nhận trong quyết định việc trong quá trình chung sống giữa chị H và anh T chỉ có 02 con chung và không xác định cháu trai có tên dự kiến là Trần Anh T1 là con chung của chị H và anh T1.
Ngày 18/6/2025 Công ty Cổ phần T3 thực hiện Giám định AND đối với anh Trần Quý D, sinh ngày 28/7/1984, địa chỉ: thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị và người có tên dự kiến: Trần Anh T1, giới tính: Nam, ngày sinh: 28/4/2021, theo giấy chứng sinh số 937, quyển số 00 do Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Q cấp ngày 12/07/2024 đã kết luận Trần Quý D có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Trần Anh T1, độ tin cậy 99,9999%.
Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị có đủ cơ sở kết luận anh Trần Quý D là cha đẻ của người có tên dự kiến: Trần Anh T1, giới tính: Nam, ngày sinh: 28/4/2021 theo quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật chấp nhận.
[5] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xét yêu cầu của người yêu cầu là yêu cầu xác định cha cho con chưa đủ 18 tuổi và có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm nên người yêu cầu là chị Nguyễn Thị H được miễn lệ phí sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 11 nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; khoản 2, 3 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình;
Điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Khoản 1 Điều 11 nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu chị Nguyễn Thị H: Xác định anh Trần Quý D, sinh ngày 28/7/1984, địa chỉ: thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của người có tên dự kiến: Trần Anh T1, giới tính: Nam, ngày sinh: 28/4/2021, theo giấy chứng sinh số 937, quyển số 00 tại Bệnh viện Đ.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho chị Nguyễn Thị Hồng. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0001408 ngày 28/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
- Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tỉnh Quảng Trị có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Dương Thị Kim Dung |
Quyết định số 02/2025/QÐST - HNGĐ ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ về yêu cầu xác định cha cho con
- Số quyết định: 02/2025/QÐST - HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU
