Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 02/2025/LĐ-ST

Ngày 19 tháng 02 năm 2025

V/v: Tranh chấp về tiền lương

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Xuân

2. Ông Nguyễn Hải Hà

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án lao động số: 19/2024/TLST-LĐ về việc “Tranh chấp về tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 523/2024/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phien tòa số 05/2025/QÐST-HPT ngày 10 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QÐST-HPT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa:

  • · Nguyên đơn: Anh Đỗ Trần D; sinh năm 1991; HKTT và nơi ở hiện nay: TDP TPhùng Chí KThị xã M, Hưng Yên(A có mặt tại phiên tòa).
  • - Bị đơn: Công ty TNHH C1; Địa chỉ: Tầng B, số A, quận B, thành phố H đại diện theo pháp luật: Bà Trần Nguyệt Á vụ: Tổng giám đốc. (Bà Á1 mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – anh Đỗ Trần D trình bày:

Anh vào làm việc cho Công ty TNHH C1 (Sau đây viết tắt là Công ty C1 theo Hợp đồng lao động từ ngày 01/03/2022 đến nay theo 02 hợp đồng lao động gồm: Hợp đồng lao động số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2022 và Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023. Kèm theo Hợp đồng lao động số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2022, giữa anh và Công ty C2 ký phụ lục hợp đồng số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2022: theo đó thời hạn hợp đồng của anh là loại Hợp đồng xác định thời hạn 01 năm, mức lương là 16.000.000 đồng. Quá trình làm việc, anh không có vi phạm điều gì theo quy chế của Công ty. Đến thời điểm tháng 09/2023, anh nghỉ việc tại Công ty với lý do Công ty không thanh toán tiền lương cho anh từ 01/11/2022 đến ngày 31/12/2022 và từ ngày 01/03/2023 đến ngày 31/08/2023. Thêm vào đó, công ty cũng không chi trả trợ cấp thôi việc và không đóng bảo hiểm cho anh từ ngày 01/06/2023 đến 31/08/2023. Đối với phụ lục hợp đồng số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023, anh đã bị thất lạc nên không có để nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, mức lương của anh vẫn là 16.000.000đồng/tháng.

Cho đến nay, Công ty đã nợ lương của anh từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2022 và từ tháng 3 năm 2023 đến hết tháng 8 năm 2023 và chưa đóng bảo hiểm xã hội cho anh trong các tháng 7 và 8 năm 2023.

Nay anh Dũng cảm TCông ty và các cá nhân liên quan lợi dụng anh và không có ý định thanh toán khoản tiền lương cho anh.

Vì vậy, anh khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Yêu cầu Công ty TNHH C1 cho anh các tháng 11/2022, tháng 12/2022, tháng 03/2023, tháng 04/2023, tháng 05/2023, tháng 06/2023, tháng 07/2023, tháng 08/2023, với mức lương: 16.000.000 đồng/tháng, Tổng cộng là 128.000.000 đồng.
  2. Yêu cầu Công ty TNHH C1 tiền bảo hiểm từ tháng 03 năm 2022 đến hết tháng 09 năm 2022 và từ tháng 07/2023 đến hết tháng 08/2023 tổng cộng 09 tháng theo mức lương đóng Bảo hiểm xã hội là 5.010.000 đồng.

Đối với các yêu cầu khởi kiện khác anh xin rút yêu cầu. Ngoài 02 yêu cầu trên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty C1 cho anh tổng cộng là 128.000.000đồng và đóng bảo hiểm xã hội cho anh trong các tháng 7 và tháng 8 năm 2023. Ngoài ra, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án– Bị đơn là Công ty TNHH C1 bà Trần Nguyệt Á2 diện theo pháp luật trình bày:

Bà xác nhận anh Đỗ Trần D1 đây là nhân viên của Công ty TNHH C1

Công ty TNHH C1mới thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 25/9/2024 và từ đó bà mới là đại diện theo pháp luật của Công ty. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật cũ của công ty là ông Dương Trọng C bàn giao hồ sơ giấy tờ cũng như các Hợp đồng lao động, thang bảng lương của nhân viên cho bà nên bà không xác định được số tiền lương Công ty còn nợ anh D2 bao nhiêu cũng như tiền bảo hiểm xã hội Công ty chưa đóng cho anh D2 bao nhiêu. Bà không biết anh D3 việc tại Công ty từ thời gian nào và cũng không biết Công ty đã trả lương cho anh D4 bao nhiêu tháng.

Nay bà cam kết Công ty TNHH C1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ tiền lương và tiền bảo hiểm xã hội còn nợ cho các nhân viên trong đó có anh D5 nhiên bà yêu cầu anh D6 bàn giao toàn bộ các phần công việc trước đây phụ trách tại Công ty cho bà.

Bà đã kiểm tra các hồ sơ giấy tờ Công ty hiện còn của Công ty T có các giấy tờ liên quan đến anh D7 bà không có các Hợp đồng lao động, thang bảng lương của Công ty và anh D8 như các tài liệu giấy tờ khác liên quan đến việc ký kết hợp đồng lao động, chi trả lương và Bảo hiểm xã hội của anh DNên bà không có tài liệu chứng cứ gì để nộp cho Tòa án liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh D

Trước yêu cầu khởi kiện của anh DCông ty có ý kiến như sau:

Đề nghị anh D9 hợp với Công ty trong việc xác định khoản tiền lương và tiền bảo hiểm xã hội Công ty còn nợ anh DCụ thể đề nghị anh D10 Công ty để trao đổi, thống nhất các khoản tiền còn nợ như trên.

Sau khi hai bên thống nhất được với nhau số tiền Công ty còn nợ thì Công ty sẽ cam kết lộ trình thanh toán số tiền còn nợ cho anh D

- Về án phí: Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật về án phí.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật; Đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

+ Về nội dung: Căn cứ tài liệu có trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận việc anh D11 một phần yêu cầu khởi kiện. Buộc Công ty C1phải trả tiền lương cho anh Đỗ Trần D12 tháng 11/2022 đến tháng 12/2022, và từ tháng 03/2023 đến hết tháng 08/2023 với mức lương 16.000.000đồng/tháng, tổng cộng là 128.000.000 đồng; Buộc Công ty C3 có trách nhiệm đóng bảo hiểm cho anh D13 tháng 7 năm 2023 và tháng 8 năm 2023 theo mức lương đóng Bảo hiểm xã hội là 5.010.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là anh Đỗ Trần Dkhởi K bị đơn là Công ty TNHH C1 có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại: Tầng B, số A, quận B, thành phố Hà Nội để yêu cầu Công ty C4 toán trả tiền lương cho anh. Do đó căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 32 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp đòi tiền lương và căn cứ điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng quy định về thẩm quyền.

- Về thủ tục hòa giải và thời hiệu khởi kiện: Ngày 28/8/2024, anh Đỗ Trần D14 nộp đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân quận Ba Đình với nội dung yêu cầu Công ty C4 toán trả tiền lương và thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho anh.

+ Căn cứ Điều 188 Bộ luật lao động, Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp về tiền lương là tranh chấp buộc thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi nộp đơn khởi kiện ra Tòa án.

Ngày 20/9/2024, anh D14 nộp đơn đề nghị giải quyết tranh chấp lao động tại Phòng lao động thương binh xã hội quận B Công văn số 497/LĐTBXH ngày 25/9/2024, Phòng lao động thương binh xã hội quận B trả lời: “Tính từ thời điểm Công ty C1nợ lương ông Đỗ Trần D(tháng 8/2023) đến thời điểm ông yêu cầu hòa giải (tháng 9/2023) đã quá thời hạn 06 tháng theo quy định. Vì vậy, Phòng lao động thương binh và xã hội quận B tiến hành hòa giải tranh chấp lao động giữa ông Đỗ Trần D15 Công ty TNHH C1

Như vậy, anh D14 nộp đơn yêu cầu hòa giải tại Phòng lao động thương binh xã hội quận B khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng do thời hạn hòa giải đã hết nên tranh chấp giữa anh D15 Công ty C1đã không thể tiến hành.

+ Căn cứ Điều 190 Bộ luật lao động quy định: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.”

Như vậy, anh D16 đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Ba Đình (Ngày 28/8/2024) là trong thời hạn 01 năm kể từ thời điểm anh nghỉ việc tại Công ty C1(Ngày 31/8/2023). Do vậy, thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định của pháp luật.

- Về việc Nguyên đơn thay đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Nguyên đơn đã xin sửa đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

+ Tại đơn khởi kiện, anh D17 cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH C1 cho anh (8 tháng) tổng cộng là 128.000.000đồng và các khoản bảo hiểm còn thiếu, các khoản trợ cấp, bồi thường chi phí đi lại và lãi phát sinh liên quan đến thời gian không thanh toán tiền và các quyền lợi khác.

+ Tại Biên bản ghi lời khai ngày 23/12/2024, anh D18 đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Yêu cầu Công ty TNHH C1 trả tiền lương cho anh các tháng 11/2022, tháng 12/2022, tháng 03/2023, tháng 04/2023, tháng 05/2023, tháng 06/2023, tháng 07/2023, tháng 08/2023, với mức lương: 16.000.000 đồng/tháng, Tổng cộng là 128.000.000 đồng.
  2. Yêu cầu Công ty TNHH C1 đóng tiền bảo hiểm từ tháng 03 năm 2022 đến hết tháng 9 năm 2022 và từ tháng 07/2023 đến hết tháng 08/2023 tổng cộng 09 tháng theo mức lương đóng Bảo hiểm xã hội là 5.010.000 đồng.

Đối với các yêu cầu khởi kiện khác tôi xin rút yêu cầu. Ngoài 02 yêu cầu trên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

+ Tại phiên tòa, anh D19 rút một phần yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Yêu cầu Công ty TNHH C1 trả tiền lương cho tôi các tháng 11/2022, tháng 12/2022, tháng 03/2023, tháng 04/2023, tháng 05/2023, tháng 06/2023, tháng 07/2023, tháng 08/2023, với mức lương: 16.000.000 đồng/tháng, Tổng cộng là 128.000.000 đồng.
  2. Yêu cầu Công ty TNHH C1 đóng tiền bảo hiểm từ tháng 07/2023 đến hết tháng 08/2023 tổng cộng 02 tháng theo mức lương đóng Bảo hiểm xã hội là 5.000.000 đồng.

Ngoài 02 yêu cầu trên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Việc Nguyên đơn sửa đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện như trên là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 193, 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc buộc Công ty TNHH C1 đóng tiền bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn trong khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2022 đến hết tháng 9 năm 2022.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Bị đơn không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ lao động giữa anh Đỗ Trần D15 Công ty TNHH C1 tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện: Anh Đỗ Trần D và Công ty cổ phần C1(Nay đổi tên thành Công ty TNHH C1) đã ký kết 02 hợp đồng lao động gồm: Hợp đồng lao động số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022 với nội dung: Anh Dũng vào làm việc cho Công ty C1thời hạn từ 01/3/2022 đến ngày 28/2/2023, chức danh là chuyên viên thiết kế tại bộ phận Mlương cơ bản là 5.000.000đồng/tháng; Bảo hiểm xã hội: Thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các quy định của pháp luật hiện hành liên quan. Ngoài hợp đồng lao động, giữa anh D15 Công ty C1còn ký Phụ lục Hợp đồng lao động 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022, theo đó mức lương của anh D20 Công ty C1theo Hợp đồng lao động số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022 là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng)/tháng.

Khi hết thời hạn của hợp đồng lao động nêu trên, anh D15 Công ty C1tiếp tục ký Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023, nội dung tương tự, chỉ khác về thời hạn hợp đồng là từ ngày 01/3/2023 đến 28/2/2024.

- Công ty TNHC1 C1do bà Trần Nguyệt Á2 diện theo pháp luật trình bày: Bà xác nhận anh Đỗ Trần D1 đây là nhân viên của Công ty C5 ty hiện không có các Hợp đồng lao động, thang bảng lương của Công ty và anh D8 như các tài liệu giấy tờ khác liên quan đến việc ký kết hợp đồng lao động, chi trả lương và Bảo hiểm xã hội của anh DNên bà không có tài liệu chứng cứ gì để nộp cho Tòa án liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh D

Việc ký kết các hợp đồng lao động và phụ lục hợp đồng giữa hai bên là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, các đương sự không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung các hợp đồng lao động và phụ lục hợp đồng lao động. Do vậy, các hợp đồng lao động và phụ lục hợp đồng đã ký kết là hợp pháp và có giá trị pháp lý.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định anh D và Công ty cổ phần C1(Nay đổi tên thành Công ty TNHH C1 phát sinh quan hệ lao động từ ngày 01/3/2022 theo các hợp đồng lao động đã ký kết giữa hai bên.

- Về thời gian anh D21 việc cho Công ty Có trình bày, anh làm việc thực tế cho công ty C7 ngày 01/3/2022 đến đầu tháng 9 năm 2023. Sao kê tài khoản ngân hàng của anh D20 Ngân hàng TMCP K1thể hiện, Công ty Clbắt đầu chi trả lương cho anh D12 tháng 3 năm 2022. Như vậy, có đủ cơ sở xác định thời điểm anh D22 đầu làm việc cho Công ty Cllà từ tháng 3 năm 2022. Ngoài ra, anh D23 trình các tin nhắn trên phần mềm ứng dụng Zalo giữa các nhân viên và ban lãnh đạo Công ty C8 hiện: Snh Dũng đã yêu cầu các cổ đông của Công ty C1thanh toán tiền lương cho anh các tháng còn thiếu cho đến tháng 8 năm 2023. Xét thấy, Hợp đồng lao động số 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022 và Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023 thể hiện: thời hạn làm việc của anh D20 Công ty C1trong 02 năm, liên tục từ ngày 01/3/2022 đến 28/2/2024. Tuy nhiên, theo anh D24 bày, do công ty không chi trả lương cho anh nên đến đầu tháng 9 năm 2023 anh đã xin nghỉ việc tại công ty và yêu cầu công ty T2những tháng còn nợ lương. Đại diện Công ty C9 xác định được thời gian anh D25 tế làm việc cho Công ty C10 cũng không có ý kiến phản đối lời khai của anh D26 việc thời gian anh D21 việc cho Công ty C1 Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai của anh D26 thời gian anh D21 việc tại Công ty C1từ ngày 01/3/2022 đến hết ngày 31/8/2023.

- Về số tiền lương Công ty C2 nợ anh DĐiều 94 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động”.

Theo anh D24 bày, tất cả các khoản tiền lương công ty C4 toán cho anh đều qua tài khoản ngân hàng của anh tại Ngân hàng TMCP K1 ra, Công ty C9 bao giờ thanh toán tiền lương cho anh bằng tiền mặt. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Công ty C1 thanh toán tiền lương cho anh D30 khoảng thời gian gồm: tháng 3/2022, tháng 4/2022, tháng 5/2022, tháng 6/2022, tháng 7/2022, tháng 8/2022, tháng 9/2022, tháng 10/2022, tháng 1/2023, tháng 2/2023. Công ty C2 chưa thanh toán tiền lương cho anh D30 08 tháng gồm: tháng 11/2022, tháng 12/2022 và các tháng từ tháng 3/2023 đến hết tháng 8/2023, tổng cộng là 08 tháng.

- Về mức lương: Điều 95 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.”

Căn cứ Hợp đồng lao động 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022 và Phụ lục Hợp đồng lao động 0103/2022/HĐLĐ-BAVE ngày 01/03/2022 thì mức lương của anh D20 Công ty C1trong khoảng thời gian từ 01/3/2022 đến 28/2/2023 là 16.000.000đồng. Và thực tế, Công ty C1 chi trả tiền lương cho anh D2 16.000.000đồng/tháng.

Tuy nhiên, theo Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023 thì mức lương của anh D2 5.000.000đồng/tháng. Anh Dũng trình bày giữa anh và Công ty C1 ký Phụ lục hợp đồng lao động kèm theo Hợp đồng lao động trên và mức lương vẫn là 16.000.000đông/tháng. Nhưng anh D không xuất trình được bản Phụ lục hợp đồng lao động này. Kể từ ngày 01/3/2023 (thời điểm bắt đầu của Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE) thì Công ty C11 không chi trả bất kỳ khoản tiền lương nào cho anh DDo vậy, không có đủ căn cứ xác định số tiền lương của anh D12 ngày 01/3/2023 đến hết tháng 8/2023 là 16.000.000đồng. Do vậy, hội đồng xét xử căn cứ vào thỏa thuận giữa anh D15 Công ty C1trong Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023 để xác định mức lương của anh D27 Hợp đồng này là 5.000.000đồng/tháng.

Như vậy, số tiền lương Công ty C2 nợ anh D4 xác định như sau:

+ Lương tháng 11 và tháng 12 năm 2022 là: 02 tháng x 16.000.000đ/tháng = 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng).

+ Ltừ tháng 03/2023 đến hết tháng 08/2023 là: 06 tháng x 5.000.000đ/tháng = 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

Tổng cộng, số tiền lương Công ty C2 nợ anh D2 62.000.000₫ (Sáu mươi hai triệu đồng).

· Về yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, Công ty C1 cho anh D30 khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2022 đến hết tháng 06 năm 2023 và còn chưa đóng bảo hiểm xã hội cho anh D12 tháng 07 năm 2023 đến tháng 08 năm 2023. Căn cứ thỏa thuận tại mục 7 Điều 3 của Hợp đồng lao động số 0103/2023/HĐLĐ-BAVE ngày 01/3/2023 thể hiện: Về bảo hiểm xã hội: Thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các quy định của pháp luật hiện hành liên quan. Anh Dũng trình bày: Công ty C1 cho anh theo mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã ký kết giữa các bên là 5.000.000đồng/tháng.

Căn cứ Điều 21, Điều 86 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Do vậy, buộc Công ty C1 trách nhiệm tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội cho anh D28 với khoảng thời gian anh D29 làm việc tại Công ty C1căn cứ vào mức lương 5.000.000đồng/tháng gồm: tháng 7 năm 2023 và tháng 8 năm 2023 theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án về số tiền lương Công ty C2 nợ anh D2 chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Các ý kiến khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[4]. Về án phí sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn được miễn án phí sơ thẩm;
  • - Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 3.100.000₫ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).

[5]. Về quyền kháng cáo:

  • - Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 5 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 193, Điều 217, Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Điều 94, 95, 96, 97, Điều 168 Bộ luật Lao động 2019;
  • Điều 21, Điều 86 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
  • Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Trần D;

    - Buộc Công ty TNHH C1 thanh toán trả cho anh Đỗ Trần D tổng số tiền lương của 08 tháng (gồm: tháng 11/2022, tháng 12/2022, các tháng từ tháng 3/2023 đến hết tháng 8/2023) là 62.000.000₫ (Sáu mươi hai triệu đồng).

    - Buộc Công ty TNHH C1 cho anh Đỗ Trần D30 các tháng 7/2023 và tháng 8/2023 theo mức lương 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng theo quy định của pháp luật.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với các khoản trợ cấp khác theo quy định pháp luật; Bồi thường chi phí đi lại và lãi phát sinh liên quan đến thời gian không thanh toán tiền; Đảm bảo các quyền lợi khác theo quy định pháp luật về lao động và yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội trong các tháng từ tháng 03 năm 2022 đến hết tháng 9 năm 2022.
  3. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với số tiền 66.000.000₫ (Sáu mươi sáu triệu đồng).
  4. Về án phí:
    • - Anh Đỗ Trần D được miễn án phí lao động sơ thẩm.
    • - Công ty TNHH C1 phải chịu 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 02/2025/LĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về tiền lương

  • Số quyết định: 02/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tiền lương
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp về tiền lương giữa anh Đỗ Trần D và Công ty TNHH C1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger